Tuesday, April 28, 2015

Người Việt mua cả thị trấn Mỹ giờ ra sao?

Với gần 1 triệu USD, Phạm Đình Nguyên trở thành ông chủ của một thị trấn ở Mỹ. Anh đặt tên nó là PhinDeli, cái tên liên quan đến cà phê phin.

Tháng tư này, chàng trai sinh năm 1975 Phạm Đình Nguyên tròn 40 tuổi. Ra đời vào thời khắc đất nước thống nhất, ở tuổi 40 chàng trai gốc Sài Gòn này đã làm được nhiều điều khiến không ít người mơ ước. Không chỉ nổi danh ở quê hương, ông giờ là chủ nhân của thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ Buford sau khi đấu giá thành công với số tiền gần 1 triệu USD.
Nguoi Viet mua ca thi tran My gio ra sao
 Biển hiệu của thị trấn là PhinDeli với điểm nhấn là cảnh trồng, sản xuất và chế biến cà phê phong cách Việt Nam. Ảnh: P.Đ.N
American dream - Giấc mơ Mỹ!
Bang Wyoming- miền Trung nước Mỹ một ngày đầu tháng 4 năm 2012. Tiết trời lạnh giá nhưng trên con đường độc đạo băng qua “thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ” Buford, nơi nối liền hai thành phố lớn NewYork và San Francisco, dòng người vẫn tấp nập kéo đến. Họ đến từ 146 quốc gia để xem và tham gia đấu giá thị trấn này. Phạm Đình Nguyên, một chàng trai người Việt nằm trong số đó.
“Hàng loạt hãng thông tấn báo chí nổi tiếng của Mỹ và các nước như BBC, CNN hay Telegraph... đã có mặt tại thị trấn nhỏ này”- Phạm Đình Nguyên kể lại hình ảnh đầu tiên mà anh nhìn thấy khi bước vào khu vực đấu giá được tổ chức bởi công ty độc lập danh giá Williams & Williams. Don Sammons, 61 tuổi- ông chủ của thị trấn Buford có tuổi gần 150 năm ra bắt tay chào đón mọi người. Không biết ai trong dòng người này sẽ được ông trao lại vùng đất. Ông là thị trưởng và là công dân duy nhất của thị trấn Buford có diện tích khoảng 10ha, sở hữu một trường học, một trạm xăng, một tháp phát sóng thông tin di động, vài căn nhà nhỏ và một tiệm tạp hóa kiêm cà phê. Dù đã tìm hiểu qua mạng về thị trấn Buford trước khi tham gia đấu giá, nhưng hình ảnh thực tế ở thị trấn đã làm Phạm Đình Nguyên thấy “hụt hẫng”.
“Tôi được phụ nữ người Mỹ tốt bụng làm môi giới, hướng dẫn tận tình các thủ tục để tham gia buổi đấu giá trực tiếp thị trấn này”- Phạm Đình Nguyên kể, họ đã giúp tôi hiểu rõ hơn về Buford, nhưng thực sự tôi không hình dung được nỗi buồn khi đặt chân đến đây. Tuy nhiên, giờ nó đã khác - Nơi ấy là quê hương thứ 2 của tôi. Ông nói, từ nhỏ đã có ước mơ làm một điều gì đó. Sau khi tốt nghiệp đại học với tấm bằng marketing, ông đã trải qua nhiều công việc ở các tập đoàn lớn rồi dừng chân với công ty Dịch vụ phân phối tổng hợp quốc tế IDS do mình làm chủ ở TPHCM.
Nguoi Viet mua ca thi tran My gio ra sao-Hinh-2
 PV Tiền Phong với ông Phạm Đình Nguyên ở Sài Gòn. Ảnh: L.N
“American dream - Giấc mơ Mỹ!”- tôi hỏi đó có phải là động lực thôi thúc ông tới đất nước hợp chủng này?”. Phạm Đình Nguyên nói ông chưa có cơ hội đến Mỹ dù rất thích từ nhỏ, cho đến khi đọc một bài báo nói về cuộc đấu giá thị trấn Buford. “Lúc ấy tôi đã rất phấn khích. Tôi quyết định tới Wyoming để trực tiếp tham gia. Đến Wyoming là một quãng đường dài đầy thử thách nhưng cuối cùng tôi cũng đã tới được đích”- Phạm Đình Nguyên tự hào và cho rằng: “Sở hữu được một chút tài sản ở quốc gia đứng đầu thế giới này là giấc mơ của tôi”.
Phiên đấu giá thị trấn đầu tiên trong lịch sử Mỹ được ông chủ Don Sammons khởi điểm với giá đưa ra là 100.000 USD. Cuộc đấu giá kết thúc sau 12 phút, cũng được cho là dài nhất lịch sử Mỹ đến hồi kết với phần thắng vào tay người Việt Phạm Đình Nguyên khi ông trả giá cho thị trấn này 900.000 USD.
Don Sammons tận tay trao lại chiếc chìa khóa tượng trưng cho doanh nhân đến từ Việt Nam với niềm vui sướng. Buford được Don Sammons mua lại năm 1980. Ông cùng vợ và con trai chuyển tới sinh sống tại thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ này và trở thành ông chủ kiêm thị trưởng cho đến khi phiên đấu giá diễn ra vào tháng 4 kết thúc. “32 năm nay, kể từ lúc vợ ông Don Sammons mất và con trai chuyển đi nơi khác, ông trở thành công dân duy nhất của thị trấn nhỏ. Tôi tự hào khi kế thừa phần tài sản từ tay Don”- Phạm Đình Nguyên phấn chấn.
“Quốc hồn quốc túy” trên đất Mỹ
Những tấm biển hiệu gắn với cái tên cũ đã được thay thế bằng cái PhinDeli vào ngày 3/9/2013. Phạm Đình Nguyên nói muốn gắn tên thị trấn như vậy để mọi người biết đến một thương hiệu “cà phê phin” vốn là đặc sản của người Việt. “Phin là công cụ pha cà phê của người Việt, còn Deli là Deliciuos- nghĩa là ngon. “Ly cà phê ngon”. Tôi muốn tạo ra một câu chuyện hay và hấp dẫn ở thị trấn của mình và xa hơn nữa là cả nước Mỹ”- Phạm Đình Nguyên nói về lý do đổi tên thị trấn. Ngay khi đổi tên thị trấn, một góc ở cửa hàng tiện lợi, quán cà phê PhinDeli cũng được khai trương. Trên mảng tường dài 10m, Phạm Đình Nguyên tạo nên một điểm nhấn bằng bức tranh vẽ các hoạt động trồng, thu hoạch, chế biến và thưởng thức cà phê theo phong cách Việt Nam.
Nguoi Viet mua ca thi tran My gio ra sao-Hinh-3
 Phạm Đình Nguyên gặp gỡ những cư dân đi qua thị trấn PhinDeli trong ngày khai trương. Ảnh: P.Đ.N
Ngoài tên thị trấn đã thay đổi, hầu như mọi thứ vốn đã tồn tại hơn 30 năm qua của Don Sammons vẫn còn vẹn nguyên. Mã bưu chính, căn nhà ba phòng ngủ, ngôi trường cùng nguồn thu duy nhất của thị trấn là một trạm xăng và một cửa hàng tiện ích, đã được tân trang lại chút ít mang dấu ấn, phong cách Việt.
Người đàn ông 40 tuổi này nói rằng mỗi ngày có khoảng 2.000 người dừng chân tại thị trấn, một phần họ dừng lại để sở thị thị trấn nhỏ nhất nước Mỹ có gì thú vị, phần khác họ đến để đổ xăng, ghé vào uống cà phê chế bằng phin miễn phí và mua các sản phẩm đến từ Việt Nam tại cửa hàng tiện lợi của ông.
Hơn một năm qua từ khi cửa hàng tiện lợi này mở trở lại, Phạm Đình Nguyên dành tâm huyết để tìm hiểu thị hiếu và đưa những sản vật được xem là “quốc hồn quốc túy” của Việt Nam sang thị trấn nhỏ này. Nước mắm Phú Quốc, gốm sứ Minh Long, sữa đặc Vinamilk để pha với cà phê hay đĩa nhạc của Đặng Thái Sơn, cà phê chế bằng phin, đặc sản chả giò, bánh kẹo, đặc sản các vùng hay những tập sách giới thiệu về văn hóa đất nước con người Việt Nam qua tranh ảnh...
Từ ngày Don Sammons bàn giao thị trấn lại cho Phạm Đình Nguyên, ông chủ kiêm thị trưởng khu phi hành chính này đã thuê một người Mỹ quản gia cho tất cả hoạt động của thị trấn. Người đó đã soán ngôi Don Sammons để trở thành công dân độc nhất nơi đây.
“Mọi hoạt động tại thị trấn vẫn được tôi kiểm soát dù mỗi năm tôi qua đó chỉ 1 đến 2 lần. Ở Mỹ mọi thứ rất rạch ròi, không phải lo lắng với người giúp việc cho mình” - Phạm Đình Nguyên cho hay.
Ngày đổi tên thị trấn, những cư dân sống sát với thị trấn ngồi nhâm nhi cà phê pha phin được Phạm Đình Nguyên tự tay chế. “Nhiều người trong số họ mang quà đến cám ơn tôi. Tôi thấy lạ vì thông thường mình phải tặng quà và cám ơn người ta mới đúng. Lúc ấy tôi mới biết họ cám ơn vì mình đã mở lại thị trấn sau nhiều năm Don Sammons đóng cửa”- Phạm Đình Nguyên nhớ lại.

Theo Tiền phong

Bác bỏ năm luận điểm và là 5 câu hỏi của ông Bùi Tín

Bác bỏ năm luận điểm và là 5 câu hỏi của ông Bùi Tín

Ông Bùi Tín đã hùng hồn nêu ra 5 câu hỏi cho học giả Đài Loan để làm 5 luận điểm chứng minh ông HCM với NAQ là một, tức là để khẳng định cuộc đánh tráo là không thể có. Tôi thấy đó là những câu hỏi rất ngây ngô ngộ nhận mà chỉ cần một người bình thường như tôi cũng có thể đưa ra các câu trả lời hay bẻ gãy lập luận của ông Bùi Tín. Và đó là việc tôi sẽ làm ở đây.
Câu hỏi đầu tiên ông Bùi Tín đưa ra là, tại sao trong kho hồ sơ lưu trữ của đảng CSLX không có tài liệu về việc bà Vera Vasilieva theo dõi việc đào tạo Hồ Tập Chương thành Nguyễn Ái Quốc tại Moscow những năm 1933-1938? Cộng sản nói chung trên toàn thế giới - cả đảng CSLX hồi đó và đảng CSVN hiện nay - với bản chất là luôn gian dối, có một “văn hóa” lưu trữ hồ sơ khác mọi chế độ: họ chỉ lưu trữ hồ sơ tự tạo ra theo ý muốn và quyền lực của những người cầm quyền hay ý muốn của đảng, hoặc họ không cần có hồ sơ lưu trữ gì cả, hoặc họ luôn thay đổi các sự kiện sao cho có lợi cho họ và bất chấp lịch sử, để lưu hồ sơ sao cho “có lợi cho cách mạng”. Với họ, không có khái niệm sự thật hay lịch sử khách quan, chỉ có cái gọi là “lịch sử trong con mắt biện chứng của đảng” - tức do họ chế tác ra. Ông Bùi Tín là người làm báo cộng sản hẳn biết rất rõ điều đó. Những năm 30s thế kỷ trước còn là thời đại khủng bố và thanh trừng nội bộ tàn khốc của Stalin-Beria khi họ thường thủ tiêu người không cần bản án, hồ sơ... thì việc gian dối thay người này bằng người khác “vì lợi ích cách mạng quốc tế” là chuyện cỏn con họ càng không cần hồ sơ và không muốn để lại hồ lưu trữ. Và nếu có chút ít hồ gián tiếp nào đó thì khả năng sau đó nước Nga rơi vào đại chiến 2 làm tan hoang cả Châu Âu và khả năng bảo tồn được các hồ sơ đó cũng rất thấp. Thêm nữa, sau chiến tranh Stalin cho giải tán Comintern là bộ phận QTCS của bà Vera Vasilieva người có thể đã phụ trách việc này, thì việc hy vọng vào hồ sơ lưu trữ của đảng CSLX là không tưởng. Xin hỏi ông Bùi Tín, liệu trong lưu trữ của đảng CSLX có tìm thấy hồ sơ về hàng vạn hàng triệu vụ tàn sát các đảng viên cộng sản Nga và Đông Âu để giải oan cho họ không? Hay trong hồ sơ lưu trữ của đảng CSVN có hồ sơ về hàng trăm ngàn vụ giết oan nông dân, địa chủ như vụ bà Cát Hanh Long không?
Câu hỏi thứ hai của ông Bùi Tín là, tại sao năm 1960 khi gặp HCM luật sư Frank Loseby vẫn nhận ra đó là “người cũ” - NAQ? Xin thưa, như đại đa số người châu Âu bình thường ông Loseby khó mà phân biệt chính xác hai người Á châu cùng tuổi cùng giới khi ông còn trẻ và minh mẫn hoàn toàn, và năm 1960 khi đến Hà Nội Ls Loseby đã gần 80 tuổi sau gần 30 năm cứu NAQ ở Hongkong, chắc chắn ông chỉ có một câu trả lời: HCM chính là NAQ mà ông đã gia ơn năm xưa, nhất là nay kẻ chịu ơn ông đó đã là Chủ tịch một đất nước mấy chục triệu dân. Hơn nữa, từ trước đó vài năm, từ 1956, HCM đã liên tục chuẩn bị cho ông Loseby “nhận ra” mình bằng cách viết thư tự giới thiệu lại và thăm hỏi, gửi quà (bức tranh thêu chùa Một Cột) và gửi ảnh của mình (Chủ tịch HCM) cho Loseby, thì làm sao Ls Loseby có thể có nghi ngờ gì nữa? Và khi đã không có nghi ngờ trong lòng thì đôi mắt của ông già 80 đang vinh dự là ân nhân của chủ tịch một nước làm sao có thể nhìn ra gì khác nữa? Thực ra, có thể ông HCM đã cố tình chỉ sử dụng ông già Loseby cho mục đích đó: xác nhận NAQ là HCM. Còn nếu để tỏ lòng biết ơn cứu mạng, tại sao HCM không viết thư cho Ls Loseby từ hơn chục năm trước đó, từ 1945 chả hạn?
Câu hỏi và luận điểm thứ ba của ông Bùi Tín là, tại sao năm 1946 khi sang lại Pháp HCM đã gặp lại các bạn cũ mà không ai nghi ngờ HCM không phải NAQ? Về điều khẳng định này, chỉ xin ông Bùi Tín đưa ra những cái tên và tài liệu chứng minh, ai là những người “bạn cũ” - cả người Việt lẫn người Pháp - mà HCM gặp trong chuyến đi Pháp năm 1946 mà trước đó đã biết rõ NAQ? Câu trả lời đơn giản là không có ai hết, và không có tài liệu nào hết ghi nhận lại những cuộc gặp như thế cả. Năm 1946 những bạn cũ người Việt của NAQ biết rõ NAQ ở Pháp hầu như không còn ai và chắc chắn không ai gặp chủ tịch HCM cả. Trong chuyến đi đó, xung quanh HCM và đến gặp HCM toàn những người của thế hệ sau mới nghe danh chủ tịch mà đến như Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Văn Huyên...
Câu hỏi và luận điểm thứ tư của ông Bùi Tín là việc bà Thanh chị NAQ năm 1946 đến phủ chủ tịch và vẫn nhận ra HCM là “thằng Coong có sẹo tai trái khi đi câu cá” và cả ông Cả Khiêm cũng nhận ra em mình? Ông Bùi Tín cũng biết rõ là bà Thanh bất ngờ ra Hà Nội và chỉ được gặp “thằng Coong” vài phút và hai người đã nói gì trong vài phút đó đến nay vẫn không ai biết. Vụ “thằng Coong có sẹo tai trái” là do bà Thanh sau này nhìn ảnh chủ tịch HCM thấy có sẹo tai trái mới nhớ ra hồi đó “thằng Coong” đi câu cá bị lưỡi câu móc vào tai... Nhưng bà Thanh lại quên hay không được xem ảnh “thằng Coong” tức Nguyễn Tất Thành lúc sang Pháp tai không có sẹo và vểnh ra và chọc lên như tai... Hồ chủ tịch.
Vụ cái tai sẹo chắc đã làm “thằng Coong” sợ hú vía nên “Coong” mới phải thiết kế cuộc gặp anh cả Khiêm mấy năm sau đó vào buổi tối nhà quê không điện, nhá nhem, để hai “anh em” hàn huyên chuyện cũ và... cũng chớp nhoáng như gặp chị Thanh, vì “bận việc cách mạng”! Ông cả Khiêm chả kịp nhận ra cái sẹo nào của “thằng Coong” thì đã ra đi ngay năm đó, 1950... Chưa ai được nghe ông cả Khiêm nói bất cứ điều gì về “thằng Coong” sau cuộc hội ngộ trong bóng đếm và không có người thứ ba đó cả? Ông Bùi Tín có thể lấy gì làm chứng để nói ông cả Khiêm đã nhận ra hay không nhận ra “thằng Coong”? Cả “thằng Coong” cũng kín như bưng đến khi vào nằm trong lăng Ba đình...
Luận điểm hay câu hỏi thứ năm của ông Bùi Tín là, tại sao nhiều người quen NAQ trước năm 1933 sau này làm việc với HCM vẫn không ai nghi ngò HCM không phải là NAQ? Đây là câu hỏi hay ho nhất và khó trả lời nhất của ông Bùi Tín, vì lần này ông đưa ra ba cái tên cụ thể: Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt và Phùng Chí Kiên.
Người thứ nhất, có lẽ ông Bùi Tín đã nhầm, vì Hoàng Quốc Việt chỉ gặp HCM tại Hội nghị TW đảng lần VIII năm 1941 tại Pắc Bó và không biết NAQ là ai?
Người thứ hai, Nguyễn Lương Bằng năm 1927-1928 được cử đi dự lớp đào tạo của TNCM ĐCH tại Hương cảng do NAQ tổ chức nhưng chưa đến nơi thì lớp học bị cảnh sát HK vây bắt nên phải giải tán và sau đó NAQ sang Thailand, còn Nguyễn Lương Bằng về nước, sau này đến 1941 NLB mới gặp HCM. Sở dĩ có sự ngộ nhận rằng NLB biết cả NAQ và HCM là do danh sách lớp học ở HK rơi vào tay mật vụ Pháp nên NLB bị bắt, và bản thân NLB cũng đã ghi trong lý lịch là mình được đi dự lớp đào tạo do NAQ mở (đúng), nhưng quên không khai là lớp đó không thực hiện được do bị cảnh sát HK bắt bớ phải giải tán...
Người thứ ba, Phùng Chí Kiên, biết rõ NAQ: đã dự lớp đào tạo của NAQ ở HK năm 1926, đã sang học trường Phương Đông ở Moscow rồi về hoạt động ở TQ, VN. Năm 1938-39 đã gặp HCM (Hồ Quang) ở TQ, cùng hoạt động một thời gian rồi đưa HCM về chiến khu Việt Bắc (hang Pắc Bó), rồi dự HN TW 8... Vấn đề là ở chỗ đến 1956-1958 HCM mới chính thức nhận mình là NAQ, còn khi làm việc với PCK ở VN và TQ thì HCM chỉ là HCM thôi. Ngay năm 1941, trung đội Bắc Sơn của PCK đã “vô tình” bị trên 4000 lính Pháp vây đánh và Phùng Chí Kiên cùng người phó Lương Văn Tri (cũng biết rõ NAQ là ai) bị Pháp giết... Như vậy PCK chưa bao giờ phải băn khoăn HCM có phải là NAQ không thì ông Bùi Tín muốn chứng mình điều gì?
Nói hộ Bùi Tín về những người biết rõ cả HCM và NAQ

Tôi vừa ngạc nhiên vừa không ngạc nhiên khi thấy ông Bùi Tín không đưa ra hai cái tên Trịnh Đình Cửu và Hồ Tùng Mậu là hai người đã cùng NAQ tham gia thành lập đảng CSĐD ở Hương cảng năm 1930 và sau này đã tham gia kháng chiến chống Pháp cùng HCM, để chứng mình HCM là NAQ.
Sau khi nghiên cứu tiểu sử của trên một trăm hai mươi yếu nhân lịch sử dân tộc Việt cùng thời với NAQ, tôi thấy có ba mươi tư người (34) đã biết rõ NAQ trước 1933 như cụ Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong... thì ba mươi người đã “ngẫu nhiên” bị chết/giết chết trước-trong-và sau khi HCM xuất hiện và không gặp được HCM, chỉ còn có 4 người được cho là biết NAQ mà vẫn sống sót để làm việc với cả HCM sau này, đó là: Nguyễn Lương Bằng, Phùng Chí Kiên, Hồ Tùng Mậu và Trịnh Đình Cửu.
Tôi muốn nói thêm về Hồ Tùng Mậu vốn là trợ lý giảng dạy cho NAQ ở Hongkong cho các lớp đào tạo của TNCMĐCH, cùng tham gia thành lập đảng CSĐD năm 1930 với NAQ, và là người đã liên hệ với đảng CSTQ và để nhờ cứu NAQ bị bắt ở HK năm 1931. Đảng CSTQ đã báo cho QTCS nhờ Công hội Đỏ thuê luật sư Loseby cái cho NAQ... Ông Hồ Tùng Mậu là bạn thân, đồng hương xứ Nghệ, là cấp dưới hay đồng cấp của NAQ từ trước 1930, là ân nhân góp phần cứu NAQ ra từ năm 1933. NAQ là bạn thân của cả gia đình họ hàng HTM vì gia đình HTM rất danh giá.
Thế mà năm 1945 khi HCM lên là Chủ tịch nước còn HTM ra tù về Hà Nội thì không được gặp HCM, phân vân không biết HCM có phải NAQ? HTM được HCM cử vào phụ trách liên khu V để rồi bị “máy bay Pháp bắn chết” năm 1951. Đáng ngờ hơn nữa là trước đó, năm 1948, con trai HTM là Hồ Mỹ Xuyên lúc đó 28 tuổi đang là phó bị thư tỉnh ủy Nghệ An được/bị HCM điều ra Đặc ủy đoàn ở Lao Cai và bị “tai nạn” chết ở đó (vì Hồ mỹ Xuyên cũng biết rõ NAQ là ai?). Sau khi Mỹ Xuyên chết, HCM “đánh máy ngay” thư chia buồn cho “bạn thân” HTM... Cả HTM và HMX đều không gặp HCM.
Câu hỏi vẫn còn bỏ ngỏ
Tóm lại là, không có một ai thực sự biết rõ cả NAQ và HCM cả, trừ Trịnh Đình Cửu (Tản Anh). Trịnh Đình Cửu cũng là một trong 7 (hay 8?) người tham gia thành lập đảng năm 1930 ở Hongkong và đến 1990 mới chết với chức vụ cuối cùng là giám đốc trường đảng NAQ! Nhưng TĐC có 13 năm lý lịch từ 1936 (sau khi ra tù) đến 1949 “biến mất”, không ai biết đã làm gì ở đâu? Đó cũng là những năm tình báo Hoa Nam đã đào tạo ra các “lãnh tụ” của các đảng CS chấu Á như đồng chí Lai Teck của đảng CS Malaysia. Nếu Trịnh Đình Cửu bị Hoa Nam bắt để khai thác và thay người của mình thì 13 năm đó là quá thừa, làm gì cũng được, và vì thế chắc chắn là TĐC đã không hề nhận ra HCM và NAQ là hai người, như ông Bùi Tín muốn chứng mình. Sao ông Bùi Tín không đưa ra cái tên Trịnh Đình Cửu nhỉ?
Có lẽ đảng CSVN cũng biết rõ Trịnh Đình Cửu cũng là tác phẩm của Hoa Nam đánh tráo, nên chỉ nâng bi một HCM là quá đủ “nặng đô” rồi?
Cuối cùng thì, HCM có phải là NAQ? Theo tôi chắc là không. Nhưng HCM có lẽ cũng không phải là Hồ Tập Chương từ Đài Loan đến. Hồ Chí Minh rất có thể là một người Việt gốc Hoa ở Nghệ An được tình báo Hoa Nam chuẩn bị để thay NAQ sau khi NAQ chết ở HK. Giống như Hoa Nam đã chọn và đào tạo một người Việt gốc Hoa khác từ Nghệ An là Trương Phước Đạt từ năm 1933 đến 1938 thành tổng bí thư đảng CS Malaysia vậy thôi? Và Hồ Chí Minh nếu từ người Hoa ở Vinh thì có thể là họ hàng với người Tàu họ Hồ ở Đài Loan?
Điều quan trọng là, chúng ta hãy để ý, việc cứu NAQ ở HK bắt đầu từ chính đảng CSTQ do Hồ Tùng Mậu báo tin và cậy nhờ... Và có lẽ vì thế mà cha con ông Hồ Tùng Mậu phải chết mà không biết HCM có phải NAQ hay không?
Câu hỏi đó, theo tôi, đến nay vẫn chưa có câu trả lời chính thức và thuyết phục.
 
Đọc thêm:

Đảng ta
Trần Thắng Lợi (Hồ Chí Minh)
Nguồn: Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tập 5
(Tặng các đồng chí chi bộ)
Năm 1847, Mác và Ăngghen phát biểu “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Sau 70 năm cách mạng Nga thành công. Sau 98 năm cách mạng Việt Nam thành công. Hiện nay, nước nào cũng có Đảng Cộng sản và chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn khắp thế giới. 20 triệu đảng viên cộng sản khắp các nước đang hăng hái lãnh đạo hàng trăm triệu người lao động và dân tộc bị áp bức, đấu tranh cho cuộc giải phóng của mình, cho một xã hội mới, cho chủ nghĩa cộng sản.
Đảng ta tuy trẻ trung, nhưng đã lập được những công trạng rất to tát.
Nhân ngày kỷ niệm thành lập Đảng, tôi nhắc lại vài mẩu chuyện của Đảng cho các đồng chí trẻ biết, chứ không phải viết lịch sử Đảng.
Năm 1921, trong cuộc Đại hội của Đảng Xã hội Pháp mở ở Tua (Tours), Đảng ấy chia làm hai phái. Phái thiểu số thì cứ giữ lấy Đảng Xã hội cũ. Phái đa số thì lập thành Đảng Cộng sản Pháp. Trong phái này có một người cộng sản đầu tiên của Đông Dương là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta.
Năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc cùng anh em cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Hội này đưa thanh niên trong nước ra Quảng Châu, huấn luyện họ, rồi phái họ trở về tuyên truyền và tổ chức khắp cả nước.
Năm 1929, trong khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.
Sau đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn.
Một nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau.
Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.
Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.
Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.
Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.
Thế là Đảng ta chân chính thành lập.
Đó là ngày lịch sử mồng 6-1-1930.
Sự thống nhất làm cho đảng viên và quần chúng cả nước rất vui mừng và thêm hăng hái. Do đó mà Đảng phát triển rất mau, hoạt động rất mạnh. Từ đó trở đi, phong trào cách mạng ở nước ta đều do Đảng ta lãnh đạo.
Vì có một chủ nghĩa cách mạng nhất, một tổ chức chặt chẽ nhất, chí hy sinh tận tuỵ không bờ bến của đảng viên, có sự hăng hái vô cùng của quần chúng, nên Đảng ta thành lập không bao lâu, đã lãnh đạo được cuộc khởi nghĩa Nghệ Tĩnh, thành lập Xô viết Nghệ An. Nếu so sánh lịch sử cách mạng các nước, chúng ta có thể nói rằng Xô viết Nghệ An đối với Việt Nam cũng hơi giống cách mạng 1905 Nga.
Xô viết Nghệ An đã lôi cuốn được cả công nhân, nông dân và học sinh. Đã lập nên chính quyền nhân dân. Đã làm cho giặc Pháp kinh sợ. Thật là một cuộc cách mạng oanh liệt đầu tiên do giai cấp vô sản Việt Nam lãnh đạo.
Giặc Pháp đàn áp một cách vô cùng dã man. Hàng ngàn hàng vạn đảng viên và quần chúng bị giết chết, bị tù đày. Giặc Pháp đã xoa tay mừng rằng cách mạng Việt Nam, cộng sản Việt Nam hết rồi. Chúng nào có hiểu: Có thể ngăn sông, có thể đào núi, nhưng không có lực lượng nào có thể ngăn trở chủ nghĩa cộng sản phát triển và thực hiện.
Sau trận khủng bố ghê gớm 1930-1931, năm 1933 Đảng lại hoạt động mạnh và càng ngày càng mạnh.
Nói đến đây, tôi phải nhắc đến những đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác. Và những thanh niên cộng sản anh dũng như Trọng Con, Hồng Quang. Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ.
Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ. Một lần nữa thực dân Pháp ra tay khủng bố. Nhiều đảng viên bị bắt, bị tù. Nhưng Đảng ta vẫn đứng vững. Đảng giao cho một số đồng chí thảo kế hoạch đánh Nhật chống Pháp. Các đồng chí ấy khai hội trên một bãi cỏ ở Quảng Tây. Trong 6,7 người, tôi chỉ nhớ tên các đồng chí Phùng Tự Do (đã hy sinh ở Na Rì, Bắc Cạn), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp.
Muốn đánh giặc, phải có quân đội. Đội du kích đầu tiên của nước ta lập ở Cao Bằng, với 12 người, trong đó có hai nữ đồng chí. Đội này do các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm và Bằng Giang phụ trách. Toàn đội chỉ có một khẩu “pạc-hoọc”, hai khẩu súng kíp và giáo mác. Thấy vậy, người khác có thể cười rằng đó là trò chơi trẻ con. Nhưng chính từ cái hạt cỏn con đó mà nay đã phát triển thành hàng chục vạn Vệ quốc quân và hàng trăm vạn dân quân du kích đang oanh liệt kháng chiến từ Bắc đến Nam, làm cho giặc Pháp phải kinh hồn, thế giới phải khen phục.
Trong mấy tháng, đội du kích số một ấy phát triển đã khá. Đảng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp cải tổ thành đội Nam tiến. Khi đã lấy lại sáu tỉnh Việt Bắc và đã lập chính quyền nhân dân, đội Nam tiến đổi tên là Quân Giải phóng. Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ Cộng hoà thành lập, Quân Giải phóng trở nên Vệ quốc quân.
Năm nay, Đảng ta mới 19 tuổi. Nhưng suốt 19 năm ấy, năm nào cũng là một năm đấu tranh dũng cảm. Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khăn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất, mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang ngày nay.
Tuy vậy, chúng ta tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại.
Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình.
- Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa?
- Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa?
- Đã luôn cố gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ chưa?
- Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa?
- Đã thật cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa?
- Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa?
Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được.
Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm trọn nhiệm vụ của đảng viên.
Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản. Vì vậy, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy. Như thế, thì dân tộc giải phóng nhất định thành công, thế giới cách mạng nhất định thành công.
Trần Thắng Lợi
(Viết đầu năm 1949. Tập san Sinh hoạt nội bộ, số 13, tháng 1-1949. Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Hà Đông xuất bản thành sách năm 1950)


Monday, April 27, 2015

NHỮNG BÍ MẬT ĐƯỢC TIẾT LỘ SAU 40 NĂM (Hoàng Duy Hùng)

NHỮNG BÍ MẬT ĐƯỢC TIẾT LỘ SAU 40 NĂM

 

Hoàng Duy Hùng

 
Cố Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt (1922-2008) đã nói về 30/4/1975 là "Biến Cố triệu người vui và triệu người buồn."  Người Cộng Sản ăn mừng chiến thắng và người Việt liều chết bỏ nước lưu vong gọi ngày 30/4 là Quốc Hận. Năm 2015 đánh dấu 40 năm.
 
I. Ai Chiến Thắng?
 
Những năm gần đây, Washington D.C và Bắc Kinh cho giải tỏa nhiều trang giấy liên quan đến những bí mật trong Cuộc Chiến Việt Nam. Bắc Kinh tiết lộ Trung Cộng là người đạo diễn và chỉ đạo hoàn toàn Nhà Nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam (tức Bắc Việt) qua nhân vật điệp viên của họ là Hồ Chí Minh và một số tay chân thân cận. Lý do Thiếu Tá Hồ Quang (hoặc Hồ Tập Chương) của Trung Cộng đóng vai Hồ Chí Minh thay cho Nguyễn Ái Quốc (tức Nguyễn Tất Thành hay Nguyễn Sinh Cung con của ông Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan) là vì Nguyễn Ái Quốc đã chết trong khám Victoria ở Hồng Kông ngày 26/6/1932 vì bệnh lao. Trung Cộng còn cho biết không phải chỉ có một Thiếu Tá Hồ Quang đóng vai Hồ Chí Minh mà có nhiều người đóng vai họ Hồ. Còn Hoa Kỳ tiết lộ năm 1972, sau khi Ngoại Trưởng Henry Kissinger của Mỹ đã đi đêm xong với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông, Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Nam Việt Nam và xóa tên Đài Loan trong Liên Hiệp Quốc. Tiết lộ còn cho biết năm 1972, khi Hoa Kỳ bỏ bom Bắc Việt, Lê Duẫn đã đánh điện văn cho Kissinger chính thức đầu hàng, nhưng Kissinger ém nhẹm điện văn này "không cho phép" Bắc Việt đầu hàng.!
 
Trở lại câu chuyện Nguyễn Ái Quốc chết trong ngục Victoria ở Hồng Kông ngày 26/6/1932.
 
---------------
 
Sổ đinh bạ của Làng Kim Liên ghi lại Nguyễn Sinh Cung sinh vào tháng 3 năm Thành Thái thứ 6, tức là năm 1894. Ngày sinh 19 tháng 5 chỉ là sinh nhật giả tạo do ĐCSVN dàn dựng cho một âm mưu chính trị chớ không phải là ngày sinh của Nguyễn Sinh Cung hoặc là Hồ Chí Minh. Năm 1898, sau khi thi Hội bị rớt, thấy đời đen đủi và thấy mấy cái tên trong nhà ông nó "khiêm tốn và không huy hoàng" nên ông Nguyễn Sinh Sắc đổi tên ông thành Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt, và Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Thành. Ông muốn nhà ông được huy hoàng và thành đạt.
 
Năm 1911, Nguyễn Tất Thành, với tên gọi là Paul hay là Ba, đã xin được một chân giúp việc cho tàu vận tải Amiral Latouche Treville. Tàu Amiral Latouche Treville rời cảng Sài Gòn, và tháng 7, 1911, Nguyễn Tất Thành đến Pháp. Tại Pháp, Nguyễn Tất Thành đã viết thư xin Bộ Thuộc Địa của Pháp cho mình ăn học để sau này trở thành người phục vụ mẫu quốc Pháp. Pháp xét đơn và cho rằng Nguyễn Tất Thành không đủ điều kiện nên không nhận. Nguyễn Tất Thành đến Hội Người Việt Nam Yêu Nước ở Paris do luật sư Phan Văn Trường, cụ Nguyễn Thế Truyền, cụ Phan Chu Trinh và ông Nguyễn An Ninh thành lập. Nguyễn Tất Thành được chọn làm người chạy việc cho các cụ. Các cụ viết nhiều bài bình luận sâu sắc, nhất là Bản Yêu Sách 8 Điểm của Nhân Dân Việt Nam, với bút danh là Nguyễn Ái Quốc. Luật sư Phan Văn Trường và cụ Phan Chu Trinh giới thiệu Nguyễn Tất Thành cho Đảng Xã Hội Pháp và để đánh bóng Nguyễn Tất Thành, luật sư Phan Văn Trường và cụ Phan Chu Trinh đồng ý để cho Nguyễn Tất Thành nhận những bài viết ký bút danh Nguyễn Ái Quốc là của Nguyễn Tất Thành.
 
Lenin chú ý đến bút danh Nguyễn Ái Quốc trong Bản Yêu Sách 8 Điểm của Nhân Dân Việt Nam. Trong kế hoạch phát triển thế lực Cộng Sản sang các nước Châu Á, Lenin triệu gọi Nguyễn Ái Quốc. Theo cụ Nguyễn Khắc Huyên, Nguyễn Ái Quốc đến Moscow vào tháng 11 năm 1922 chớ không phải là năm 1923 hoặc sau khi Lenin qua đời vài ngày vào năm 1924 như tài liệu của ĐCSVN công bố. Năm 1924, Lenin qua đời, Stalin lên nắm quyền và bắt đầu thử thách cũng như thanh trừng những người trong Đảng Cộng Sản. Hung thần Stalin là một nhà độc tài khát máu khét tiếng ai nấy đều sợ nên rất nhiều tài liệu cho thấy thời gian đó Nguyễn Ái Quốc khép nép kính cẩn cúi mình với Stalin như là một đầy tớ trung thành hơn là một đảng viên cộng sản có lý tưởng như Manabendra Nath Roy của Ấn Độ.
 
Tháng 12, năm 1924, Staline cắt cử Nguyễn Ái Quốc, với bí danh là Lý Thụy, đi tháp tùng với Borodine về Quảng Châu. Bề ngoài Borodine đến Quảng Châu là để giúp Tôn Dật Tiên hệ thống hóa tổ chức, nhưng bên trong thì Borodine cài cấy biến đảng viên Quốc Dân Đảng thành đảng viên Cộng Sản. Lý Thụy cũng làm theo mô thức này, Lý Thụy gặp cụ Phan Bội Châu, được cụ Phan Bội Châu giới thiệu gặp những nhà hoạt động trong Tâm Tâm Xã của cụ như những ông Lê Hồng Phong, Lâm Đức Thụ, Hồ Tùng Mậu, Vương Thúc Oánh, Vũ Hải Thu, v.v.. Cụ Phan Bội Châu cũng giới thiệu Lý Thụy cho một nhà cách mạng Việt Nam khác đó là cụ Hồ Học Lãm, từng là một du sinh sang Nhật học trong Phong Trào Đông Du 1906 của cụ Phan Bội Châu. Khi Pháp làm áp lực Nhật giải tán những du sinh Việt thì cụ Hồ Học Lãm qua Trung Quốc tham gia quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng, với cấp Tá, và viết lách với bút hiệu Hồ Chí Minh. Năm 1925, khi cụ Phan Bội Châu đi tới Tô Giới Thượng Hải, Lý Thụy đã bí mật báo tin cho Pháp bắt cụ Phan Bội Châu để lấy 10 vạn quan tiền. Ông cũng âm thầm thuyết phục các thành viên Tâm Tâm Xã tham gia vô Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chi Hội, tiền thân của Đảng CSVN sau này. Tại Quảng Châu, Lý Thụy làm đám cưới với bà Lý Huệ Khanh. Tôn Dật Tiên qua đời, Tưởng Giới Thạch lên thay quyền, khám phá kế hoạch làm giây leo của Borodine, tháng 4 năm 1927, họ Tưởng phát động kế hoạch truy sát phái đoàn Borodine. Phái đoàn Borodine trong đó có Lý Thụy phải bỏ trốn thục mạng về Moscow.
 
Về lại Moscow, năm 1928, Nguyễn Ái Quốc đi Bỉ và đi Pháp. Năm 1930, Staline cắt cử Nguyễn Ái Quốc đi Hồng Kông để họp thống nhất các khuynh hướng Cộng Sản của người Việt Nam. Ngày 3 tháng 2 năm 1930, dưới sự chủ tọa của Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức được khai sinh và người Tổng Bí Thư đầu tiên là Trần Phú. Staline lệnh cho Nguyễn Ái Quốc với bí danh là Tống Văn Sơ đi Thái Lan thành lập Đảng Cộng Sản Xiêm. Ngày 20/4/1930, tức là 48 ngày sau khi thành lập ĐCSVN, Nguyễn Ái Quốc chủ tọa đại hội thành lập Đảng Cộng Sản Xiêm. Nói là Xiêm La hay Thái Lan, thực chất đa phần các thành viên sáng lập là người Việt, Việt gốc Hoa, hay là người Thái gốc Hoa. Sau phiên họp thành lập Đảng Cộng Sản Xiêm, Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Tống Văn Sơ để đi đi lại lại giữa Thái Lan, Singapore, Mã Lai, và Hồng Kông.
 
Năm 1930, Singapore và Hồng Kông là thuộc địa của Anh. Thời điểm này, Staline biệt phái Joseph Ducroux (với bí danh là Serge LeFranc) đến các quốc gia Á Châu để tìm cơ hội kinh tế cũng như tạo ảnh hưởng cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Sau vài tháng hoạt động, vì một chút khinh xuất, Joseph Ducroux bị chính quyền Anh ở Singapore khám phá ra là tình báo của Liên Xô. Ngày 1/6/1931, chính quyền Singapore bắt Joseph Ducroux và từ đó họ phanh phui ra các đường dây tình báo của Liên Xô, trong đó có Tống Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc. Ngày 6/6/1931, chính quyền Hồng Kông bắt giam Tống Văn Sơ với lý do nhập cảnh trái phép. Khi bắt lấy Tống Văn Sơ, Tống Văn Sơ đang chung sống với một phụ nữ tên là Li Sam. Một năm sau, ngày 26/6/1932, Tống Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc qua đời tại nhà giam Victoria ở Hong Kong.
 
Hồ Quang được tình báo Hoa Nam dàn dựng đóng vai Nguyễn Ái Quốc ngõ hầu tiếp tục các công việc mà Nguyễn Ái Quốc đã làm và cũng là lèo lái Cộng Sản Việt Nam theo ý muốn của Trung Quốc, biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung Quốc. Tham vọng này là bản chất cố hữu của nhóm người theo Chủ Nghĩa Hán Tộc cực đoan ở bất kỳ thời đại nào. Đó là lý do tại sao năm 1990, Bắc Kinh lôi kéo để cho các lãnh đạo CSVN ký Hiệp Ước Thành Đô với tham vọng từ năm 2020 trở đi Việt Nam chính thức là một tỉnh của Trung Quốc.
 
Năm 1935, Hồ Quang với bí danh "Đồng Chí Lâm" qua dự Đại Hội Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản tại Moscow. Chắc chắn Đệ Tam Quốc Tế CS do Stalin lãnh đạo biết Hồ Quang không phải là Nguyễn Ái Quốc, nhưng họ đã sử dụng Hồ Quang để cho mục tiêu và quyền lợi của họ. Đó là lý do tại sao có rất ít tài liệu liên quan đến Hồ Chí Minh từ năm 1932 cho đến năm 1938. Năm 1938, Hồ Quang đến Diên An gặp Mao Trạch Đông, sau đó đến Quế Lâm. Năm 1940, Hồ Quang đến Côn Minh gặp Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp mới từ Việt Nam trốn sang để bàn thảo chương trình hoạt động. Chưa chắc Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp biết Hồ Quang là Nguyễn Ái Quốc giả mạo. Tình báo Trung Cộng biết Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (sau này được gọi là Việt Cách) của cụ Nguyễn Hải Thần thành lập năm 1937 có uy tín nên ra lệnh cho Hồ Quang, ngày 19/5/1941, cùng với Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp, xập xí xập ngầu đánh lận con đen thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (sau này gọi là Việt Minh). 
 
Năm 1942, Tướng Trương Phát Khuê của Trung Hoa Quốc Dân Đảng nghi Hồ Quang làm tình báo cho Liên Xô nên bắt Hồ Quang ở Quảng Châu. Hồ Quang biết bút hiệu Hồ Chí Minh có uy tín trong những người Việt Quốc Gia lưu vong ở Trung Quốc nên đã nhanh nhẹn tự xưng là Hồ Chí Minh. Nhờ như vậy nên Hồ Quang đã được cụ Nguyễn Hải Thần bảo đảm thân thế và che chở cho và Hồ Quang xin gia nhập tổ chức Việt Cách của cụ Nguyễn Hải Thần. Sau khi được cụ Nguyễn Hải Thần cứu giúp khỏi tay Tướng Trương Phát Khuê, Hồ Quang giả vờ nhận lệnh của cụ Nguyễn Hải Thần xâm nhập về nước để thành lập Việt Cách của cụ Nguyễn Hải Thần, nhưng, khi đã về nước, Hồ Quang phát triển Việt Minh cướp luôn công trạng của Việt Cách.
 
Năm 1945, Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, một khoảng trống chính trị xảy ra ở Việt Nam, tình báo Trung Cộng đánh giá tinh hình khá chuẩn và ra lệnh cho Hồ Quang hô hào đàn em cướp chính quyền. Ngày 2/9/1945, lần đầu tiên danh xưng Hồ Chí Minh xuất hiện tại Việt Nam. Có rất nhiều nghi vấn không biết người đọc Tuyên Ngôn Độc Lập là Hồ Quang hay là một người nào khác. Sau khi cướp được chính quyền, vì là Nguyễn Ái Quốc giả mạo nên Hồ Quang đã thanh toán một cách tinh vi những người trước đây biết gốc gác của Nguyễn Ái Quốc. Khi cần phải tiếp xúc với những người nói là anh ruột Nguyễn Tất Đạt hay bà chị ruột Nguyễn Thị Thanh, thì sự tiếp xúc rất ngắn ngủi, chỉ có vài phút trong căn phòng u ám để những ngươi này khó mà biết đó là kẻ giả mạo.
 
---------
 
Biến cố Tống Văn Sơ tức Nguyễn Ái Quốc đã chết trong khám Victoria ở Hồng Kông năm 1932 đã được báo L'Humanité của Pháp đăng tải đầu tháng 7 năm 1932, các báo chí của Nga cũng đăng tải, và Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản cũng đã làm lễ tưởng niệm cho Nguyễn Ái Quốc. Nhưng sau này Cộng Sản nói rằng họ phải tung tin giả là Nguyễn Ái Quốc đã chết để che mắt tình báo Pháp và tình báo Anh ngõ hầu tình báo Pháp và tình báo Anh đóng hồ sơ Nguyễn Ái Quốc lại để Nguyễn Ái Quốc thay tên đổi họ dễ dàng hoạt động.
 
Lý luận này vậy mà đã qua mặt được nhiều người!  Nhưng, tôi không tin lý luận này qua mặt được tình báo Pháp và tình báo Anh hay cả tình báo Hoa Kỳ vì họ là Đồng Minh với nhau. Nguyễn Ái Quốc chết trong tù Victoria do Anh cai quản, xác chết của Nguyễn Ái Quốc còn, và hiện giờ tro cốt của Nguyễn Ái Quốc vẫn ở Hồng Kông, nên nói rằng tung tin giả Nguyễn Ái Quốc như kế ve sầu thoát xác đánh lừa tình báo Pháp và tình báo Anh là một chuyện đùa của trẻ con.
 
Vậy là cả Pháp, Anh, và Mỹ đã biết rõ Nguyễn Ái Quốc chết ở trong khám Victoria và họ làm ngơ để cho Liên Xô và Trung Cộng dàn dựng người thay thế, với vai là Hồ Chí Minh. Tại sao? Mỗi một quốc gia đều theo đuổi mục tiêu và quyền lợi của quốc gia đó.  Thời gian này, Cộng Sản chưa phải là hiểm họa ngay tức thời (imminent danger) mà là Đức Quốc Xã, Facist, và quân phiệt Nhật. Ba quốc gia này thành lập Phe Trục tính thôn tính cả thế giới. Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Mỹ, Anh và Pháp đã liên minh với Liên Xô để đánh tan phe Trục. Riêng Mỹ còn tính toán xa hơn, họ muốn sau Đệ Nhị Thế Chiến có một Hồ Chí Minh tạo một cục diện mới ở Đông Nam Á ngõ hầu Mỹ dễ dàng hất chân Pháp ra khỏi Đông Dương. Đó là nguyên do tại sao năm 1945, Thiếu Tá Archimedes Patti của Phòng Dịch Vụ Chiến Lược (Office of Strategy Services, viết tắt là OSS, tiền thân của CIA), đã tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong một khu quân sự. Điều đáng nói ở đây đó là bài phát biểu của Nguyễn Ái Quốc trong Khóa 5 của Đại Hội Đệ Tam Quốc Tế ở Moscow năm 1924, Hoa Kỳ có đầy đủ những thước phim tài liệu đó và đã từng chiếu trên "Vietnam: A Television History." Và, Hoa Kỳ cũng thâu hình buổi tiếp xúc của Thiếu Tá Archimedes Patti năm 1945 và cũng trình chiếu trên truyền hình. Hình ảnh Nguyễn Ái Quốc trẻ trung khác với khuôn mặt của Hồ Chí Minh năm 1945, chẳng lẽ tình báo Mỹ lại không nhận ra?
 
Trung Cộng, qua Hồ Quang, đã thiết lập cơ chế Cộng Sản trên Việt Nam. Cuộc Chiến Việt Nam, Trung Cộng đã thắng. Lê Duẫn đã gởi công điện đầu hàng, vì đã thỏa thuận ngầm xong với Trung Cộng, Kissinger ém nhẹm không cho đầu hàng, vậy là Mỹ bề ngoài thua nhưng bên trong thì thắng lớn vì đã hoàn thành chiến lược dùng Việt Nam làm con bài để cho Liên Xô và Trung Cộng hiềm khích nhau đưa đến sự tan rả của Quốc Tế Cộng Sản. Đảng Cộng Sản Việt Nam thắng nhưng phần lợi vật chất chỉ cho một số mà thôi, còn mất mát tinh thần thì như thế nào? Trong Đảng Cộng Sản Việt Nam, kẻ "thắng" và "hưởng lợi" vật chất nhiều nhất chính là Lê Duẫn (1907-1986), nhưng rồi số phận của Lê Duẫn đã kết thúc một cách khó hiểu sau khi đi Moscow để triều yết Gorbachev, trở về lật đật, ngày 10/7/1986 phải đem vào nhà thương khẩn cấp và qua đời tại đó. Người ta đồn rằng chính Gorbachev đã hạ lệnh hạ độc Lê Duẫn để đưa Nguyễn Văn Linh lên ngõ hầu tạo sự thuận lợi cho hai chính sách Glasnost và Perestroika mà do Gorbachev đề xướng. Lê Duẫn cúc cung làm đầy tớ cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản với câu nói đầy tính nô bộc "Ta đánh Mỹ Ngụy là ta đánh thay cho Liên Xô, ta đánh thay cho Trung Quốc" thì phần thưởng cuối cùng của ông là ông chủ Liên Xô tặng cho một cái chết đầy bí ẩn.
 
Nói đến kẻ thắng Trung Cộng thì thành phần nào của Trung Cộng? Trung Quốc có hơn tỷ dân và có nhiều sắc tộc. Cá nhân người Trung Quốc rất hiền lành, dễ thương, cần cù và đầy nghĩa cử thương người. Nhưng cơ chế cầm quyền của Trung Quốc, hầu như ở bất kỳ thời đại nào, cũng muốn bành trướng từ thế lực. Việt Nam là quốc gia đã từng bị họ đô hộ cả ngàn năm, và dầu đã thoát khỏi sự đô hộ của họ hơn ngàn năm, sách sử của Trung Quốc qua nhiều thời đại vẫn cứ coi Việt Nam là một tỉnh phản loạn cần được bình định. Đó chính là căn nguyên chí nguy cho dân tộc Việt. Mộng bành trướng của nhóm người theo Chủ Nghĩa Hán Tộc Cực Đoan trong cơ chế cầm quyền Trung Quốc sẽ luôn là con ma vô hình ám ảnh Việt Nam.
 
Khi nói đến Mỹ thì Mỹ nào? Người dân Mỹ bình thường thì cũng giống như bao dân tộc khác, chất phát làm ăn và hào sảng đóng góp cho xã hội. Nhưng tập thể tài phiệt ở đàng sau hậu trường chính trị của cả hai Đảng Cộng Hòa và Đảng Dân Chủ mới đáng lưu ý. Tập thể đó lèo lái để rồi quyền lợi của nước Mỹ là tối thượng. Tập thể này có rất nhiều người Do Thái. Chính những người Do Thái ở Mỹ đã biến sức mạnh của Mỹ thành sức mạnh của người Do Thái nên Do Thái là một quốc gia nhỏ bé ở Địa Trung Hải, ở giữa lòng khối Ả Rập, họ vẫn có thể tồn tại. Không có sức mạnh hỗ trợ của Mỹ ở đàng sau thì chắc chắn Do Thái đã bị các quốc gia Ả Rập xóa sổ trên bản đồ thế giới. Người ta cho rằng nhóm này muốn Tổng Thống Ngô Đình Diệm nhượng cảng Cam Ranh cho Mỹ và để Mỹ đưa quân vào Việt Nam giải tỏa những vũ khí còn tồn đọng của Đệ Nhị Thế Chiến, Tổng Thống Ngô Đình Diệm không đồng ý thì tháng 11 năm 1963 họ sát hại ông và bào đệ Ngô Đình Nhu. Dư luận cho rằng nhóm này thấy rằng Tổng Thống John F. Kennedy không dứt khoát đem quân vào Việt Nam cách ồ ạt thì sau khi sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vài tuần sau, họ cũng sát hại luôn Tổng Thống John F. Kennedy. Phó Tổng Thống Lyndon B. Johnson lên làm Tổng Thống, làm theo ý họ. Nhiều người tin rằng vì không chịu thấu những sai bảo của nhóm người này, và vì không muốn bị sát hại như Tổng Thống John F. Kennedy, nên năm 1968, Tổng Thống Johnson nhất định không ra tái tranh cử. Nhóm người này đã báo tin cho Richard Nixon biết TT Johnson không tái tranh cử thì nếu Richard Nixon ra tranh cử coi như ghế Tổng Thống ở trong lòng bàn tay với điều kiện phải có người của họ ở trong nội các. Richard Nixon thắng cử và theo sự thỏa thuận, Henry Kissinger, một người Do Thái, đã làm Ngoại Trưởng. Nhiều tài liệu cho thấy giữa Nixon và Kissinger đã nổ ra những buổi tranh cãi gay gắt. Sau biến cố 1972, Kissinger đi đêm với Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông xong, Kissinger dấu nhẹm không cho Richard Nixon biết Bắc Việt đã đầu hàng. Khi biết chuyện, Nixon và Kissinger tranh cãi kịch liệt tới hồi không còn cứu vãn được, nhóm người này triệt Richard Nixon bằng cách đem con bài Watergate ra, thế là lịch sử sang trang.
 
Người thua nặng nhất chính là chế độ Việt Nam Cộng Hòa, dân chúng Nam Việt Nam, và toàn thể dân tộc Việt Nam. Đất nước Việt đã làm bãi rác cho Mỹ, Nga, và Trung Cộng giải quyết những vũ khí tồn đọng của họ trong Đệ Nhị Thế Chiến cũng như để thử những vũ khí mới hầu bán cho những quốc gia khác. Bao nhiêu người chết oan ức trong Đấu Tố Ruộng Đất 1952-1954 chỉ vì điệp viên Trung Cộng với cái danh xưng Hồ Chí Minh nhận lệnh của Mao Trạch Đông. Những người Việt theo Cộng Sản cách cuồng nhiệt nhưng thiếu thông tin, thiếu cân nhắc, hoặc vì tư lợi nhỏ nhoi, đã gây ra máu xương vô ích của dân tộc giữa hai miền cho một cuộc chiến 20 năm dài dăng dẳng chỉ vì các siêu cường ở đàng sau dàn cảnh để thủ lợi! Biến cố Mậu Thân 1968 đã làm cho dân xứ Huế bàng hoàng rơi lệ với những cảnh giết người man rợ của những người Cộng Sản khát máu. Rồi, cũng chính những người Viêt theo Cộng Sản, sau chiến thắng 1975, đã hoang phí chất xám của dân tộc khi đọa đày những thành phần ưu tú của chế độ VNCH trong các trại cải tạo, đẩy người vượt biển vượt biên với cả khoảng nửa triệu người bị hải tặc hành hạ và bỏ thây trong lòng biển cả đến nỗi thế giới phải gọi đây là Lễ Hy Tế Mới của thời đại.! Vết thương lòng đó vẫn còn rỉ máu âm ỉ trong lòng những nạn nhân cho đến ngày hôm nay.
 
Đau đớn nhất chính là sự thua kém các lân bang trên phương diện kinh tế cũng như những vi phạm nhân quyền vẫn đang tiếp diễn. Nước Việt tới giờ phút này cũng chưa có nền tảng dân chủ đó là Tam Quyền Phân Lập thì làm sao có thể nói đến cột nhà tự do ngôn luận và mái nhà dân chủ là đa đảng?!  Nhật thua trong Đệ Nhị Thế Chiến, nhưng chỉ 15 năm sau, Nhật đã trở thành cường quốc. Đã 40 năm có thể gọi là 2 thế hệ rồi nhưng Việt Nam vẫn còn ì ạch đi sau nhiều quốc gia khác trước đây Việt Nam Cộng Hòa đã qua mặt như Thái Lan và Mã Lai. Cả dân tộc Việt Nam bị thua là ở chỗ đó.
 
II. Tại Sao Các Cường Quốc Lại Tiết Lộ Bí Mật Trong Thời Điểm Này?
 
Mỹ tiết lộ vấn đề Việt Nam chưa chắc vì do họ muốn tiết lộ vì do cơ cấu xã hội dân sự mạnh, những cá nhân làm việc trong guồng máy chính quyền rò rỉ tin tức trước, thí dụ ông Daniel Ellsberg (sinh 1931), từng là nhân viên của Research and Development (viết tắt là RAND) chuyên phân tích tình báo của quân đội Hoa Kỳ, sau khi biết được thỏa thuận ngầm giữa Henry Kissinger và Chu Ân Lai bán đứng VNCH và Đài Loan, ông thấy lương tâm bứt rứt, ông rò rỉ tin tức này cho báo chí của Mỹ, để rồi cuối cùng chính phủ Mỹ không còn dấu diếm được nữa nên 40 năm sau phải công nhận tất cả những tin tức rò rỉ này là đúng sự thật.!  Hoặc mấy năm gần đây, Edward Snowden (sinh 1983) làm cho NSA rò rỉ tin tức chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ theo dõi tin tức cá nhân một cách rất là chi tiết và còn nghe lén những cuộc điện đàm của các nguyên thủ quốc gia cho dù quốc gia đó là đồng minh như Đức hoặc Pháp. Khía cạnh nào đó người ta kết án Edward Snowden là "phản quốc" nhưng ở một khía cạnh khác Edward Snowden đóng vai người "thổi còi" (whistle blower) để ngăn chận những lạm dụng quyền lực.
 
Nhưng khi nhà cầm quyền Trung Quốc chủ động tiết lộ những bí mật thì phải có một chủ đích. Bắc Kinh làm ngơ vụ con cháu của ông Hồ Tập Chương in sách tiết lộ thân thế Hồ Tập Chương chính là Hồ Chí Minh thì tiết lộ này chưa có quan trọng lắm. Nhưng khi Bắc Kinh cho thành lập Nhà Triển Lãm Hồ Chí Minh, nơi đó tiết lộ đóng vai Hồ Chí Minh không phải chỉ là một người, mà là nhiều người, do Trung Cộng dàn dựng thì là một chuyện khác. Thí dụ, họ cho triển lãm một điệp viên sau khi đóng vai Hồ Chí Minh, trở về Trung Quốc, chụp ảnh lưu niệm với gia đình, ký tên để xác nhận mình từng là Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam, rồi sau đó nhất quyết không muốn trở về Việt Nam nữa, thì ai nấy đều phải sửng sờ. Điệp viên đóng vai Hồ Chí Minh sau này, vì quá dâm đảng và kiêu căng nên phải bị quả báo, và xác của ông đã bị ướp để trong lăng nhưng thật ra cũng đã thối rửa không còn gì.
 
Trung Cộng tiết lộ bí mật điệp viên Hồ Chí Minh là để dằn mặt những người đang nắm quyền ở trong ĐCSVN. Họ muốn nhắn gởi ĐCSVN này do chính họ thành lập và nuôi dưỡng cho nó lớn lên, không có họ thì ĐCSVN không có ngày hôm nay. Họ muốn nhắn gởi Hồ Chí Minh là người của họ, đã làm theo ý họ, họ muốn nhào nặn ra sao thì tùy họ, hậu vận như thế nào là do ý họ, thì những ai muốn vinh thân phì gia hãy liệu mà chọn. Họ muốn nhắn gởi một tín hiệu đó là ngay từ đầu Hồ Chí Minh đến Việt Nam là có sứ mạng biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung Quốc thì người Việt Nam có vùng vẫy đến đâu rốt cuộc rồi cùng sẽ ở trong lòng bàn tay của họ mà thôi. Đó là lý do tại sao có Hội Nghị Thành Đô 1990. Đó là lý do tại sao có những Hiệp Ước về Hải Phận năm 2000 và những năm sau đó mà những hiệp ước này đều có hại cho Việt Nam. Đó cũng chính là nguyên do họ đã nuốt trửng Hoàng Sa năm 1974 và một phần của Trường Sa năm 1988 và trong tương lai họ tìm bằng mọi cách nuốt trọn Trường Sa.
 
Người thắng canh bạc lớn là Trung Cộng và Mỹ, nhất là nhóm siêu quyền lực ở đàng trong hậu trường chính trị trong đó có nhiều  người gốc Do Thái. Người thua ván cờ này chính là cả dân tộc Việt Nam.
 
Nhiều người hy vọng Mỹ sẽ tái phối trí lực lượng ở Biển Đông và Trung Cộng sẽ sụp đổ. Chính sách của Mỹ đối với Trung Cộng được gọi là "containment policy" tức là bao vây. Bao vây không có nghĩa là làm cho sụp đổ. Bao vây thì giống y như cắt tỉa một cây cho gọn gàng chớ không phải là triệt tiêu cây đó. Mỹ coi Trung Cộng là đối tác chiến lược để cùng nương tựa nhau mà tiến chớ không phải là kẻ thù để mà triệt hạ tới cùng. Chính Mỹ đã giúp cho Trung Cộng mạnh lên như ngày hôm nay. Nhưng khi thấy "cái cây" Trung Cộng lớn mạnh quá thì họ "cắt tỉa" không để cho các nhánh cây mọc lởm chởm gây bất tiện cho Mỹ.
 
Năm 2012, Trung Cộng đem quân vào Đảo Khăn Vành ở Trường Sa đánh Hải Quân của Phi, Phi kêu cầu Mỹ, Ngoại Trưởng Hilary Clinton nói với Phi hãy rút quân khỏi nơi đây đi, Mỹ sẽ giải quyết. Tin lời Ngoại Trưởng Hilary Clinton, Phi rút quân khỏi Đảo Khăn Vành. Sau khi Trung Cộng đem quân vào đóng ở Đảo Khăn Vành, Phi hỏi Mỹ thì được bà Hilary Clinton trả lời: "Biển Đông lớn đủ để cho Trung Quốc có phần." Trung Cộng chiếm luôn Đảo Khăn Vành cho đến ngày hôm nay và Phi phải ngậm bộ hòn ấm ức Mỹ vô cùng. Qua biến cố này làm chúng ta nhớ lại biến cố Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974, chính Mỹ đã ngấm ngầm để Trung Quốc tấn chiếm Hoàng Sa và làm ngơ không giúp Hải Quân VNCH đánh trả vì Mỹ muốn đem Hoàng Sa làm quà tặng cho Trung Cộng để mở màn một kỷ nguyên mới của sự đối tác Trung Cộng & Hoa Kỳ.
 
Mỹ và Trung Cộng đã thỏa thuận ngầm cách đây hơn 40 năm thì bây giờ sự thỏa thuận đó vẫn tiếp diễn, Mỹ đồng ý cho Trung Quốc "có phần" ở Biển Đông, đừng có ảo tưởng Mỹ sẽ đối đầu tiêu diệt Trung Cộng. Trung Cộng tiết lộ những bí mật để cho Việt Nam và cả thế giới hiểu rằng bề mặt Mỹ và Trung Cộng có thể đóng vai căng thẳng đấu đá lẫn nhau, nhưng thực chất bên trong đã có những sự thỏa thuận chia để trị thế giới, đừng có manh nha vọng động. Mỹ đang là đối tác của Trung Cộng, và đó cũng là nguyên do tại sao Trung Cộng cho Mỹ vay nợ nhiều nhất, hàng bao nhiêu ngàn tỷ dollars. Người Việt cần đánh giá tình hình cho chính xác kẻo không dân tộc Việt Nam đã thua đậm năm 1975 thì sẽ còn thua dài dài trong tương lai.
 
III. Quốc Hận: Hận Cái Gì? Hận Ai? Hận Tới Bao Giờ?
 
Chữ "hận" trong tiếng Việt có ý nghĩa sâu rộng: 1. Ân hận có tính cách trách móc mà tiếng Anh gọi là regret; 2. Uất hận, căm hận, phẫn hận thì hầu như tiếng Anh không có chữ tương đương vì những chữ frustration, mad, angry không lột tả được hết những ý nghia trong tiếng Việt; 3. Thù hận thì ghép hai chữ hatred & revenge trong tiếng Anh lại cũng chưa nói lên hết ý nghĩa. 4. Chữ "hận" trong tiếng Việt còn gồm luôn cả bi hận, biến đau thương thành hành động, hành động phản kháng và trả thù có tư cách của tri thức, tìm mãi tiếng Anh không thấy có chữ nào tương đồng, may ra có chữ resistance hoặc defiance là phản kháng. Nếu vậy thì gọi là Ngày Quốc Kháng thì có những người khó tính cho rằng dễ bị tráo chữ thành "Ngày Quốc Khánh" ăn mừng chiến thắng! Đó là lý do tại sao có một dạo ở hải ngoại người ta đã dùng chữ Vietnam's National Resistance Day, Ngày Quốc Kháng của Việt Nam cho ngày 30/4. Có một nhà văn chống Cộng có chiều sâu và rất có tư cách ở San Jose đã dùng bút hiệu Trần Quốc Kháng. Nhưng sau đó cao trào dùng Quốc Hận đã thay thế Quốc Kháng. Chữ Quốc Hận hầu như không có thể nào dịch sang được tiếng Anh vì không có từ ngữ nào lột hết được ý nghĩa của chữ "hận" trong tiếng Việt. Người Việt lưu vong cần phải chọn một ngày bằng tiếng Anh cho Ngày Quốc Hận kẻo không có những sự ngộ nhận đưa đến sự phân hóa không cần thiết khi có những người gọi 30/4 là Vietnam's National Resitance Day hoặc một từ ngữ nào khác.
 
Hận cái gì? Chủ nghĩa Cộng Sản tự nó là một triết lý mang nhiều mâu thuẫn nội tại đầy dẫy sai lầm và hoang tưởng. Chủ nghĩa này sau khi đã được cơ chế hóa thì nó đã gieo rắc biết bao tang thương và thiệt hại nhiều triệu sinh linh trên toàn thế giới. Cái nôi phát sinh ra chủ nghĩa Cộng Sản là Liên Xô đã đứng dậy vất bỏ chủ nghĩa và cơ chế này vào sọt rác lịch sử. Việt Nam là nạn nhân của chủ nghĩa và cơ chế này, và dầu nhiều quốc gia trên thế giới đã vứt bỏ nó trong thùng rác của lịch sử, Việt Nam vẫn ôm lấy thây ma của nó để trục lợi cho phe nhóm. 
 
Chủ nghĩa là một sự trừu tượng. Nếu có "hận" thì hận cái cơ chế của chủ nghĩa đó và những con người đã thiết lập cơ chế đó. Người đáng hận chính là Nguyễn Tất Thành đã tình nguyện làm tay sai cho Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản gieo rắc hạt giống này. Tuy Nguyễn Tất Thành đã mất trong nhà tù Victoria ở Hồng Kông năm 1932, ông ta rất đáng bị dân tộc Việt "hận" và ông ta phải trả lời trước lịch sử về những hệ quả tai hại mà ĐCSVN đã gây nên cho dân tộc Việt.
 
Còn những điệp viên của Trung Cộng như Hồ Quang có đáng hận hay không?  Họ nhận lệnh cấp trên làm việc cho quyền lợi của nước họ. Đối với dân Việt thì coi họ là kẻ xâm lăng và nếu có "hận" thì cái hận này đối với "kẻ giặc nước ngoài." Người Việt căm hận Mã Viện nhưng với dân Trung Quốc, Mã Viện là anh hùng yêu  nước.
 
Những người gia nhập vô Đảng Cộng Sản VN thì mức độ đáng hận tùy theo từng người. Nếu tham gia chỉ vì không hiểu Cộng Sản là gì và do lòng yêu nước thì không đáng hận cho lắm. Nhưng những người như Lê Duẫn phát biểu "đánh Mỹ Ngụy là đánh thay cho Trung Quốc và cho Liên Xô" đã tỏ bày tính nô bộc của mình cho ngoại bang thì rất đáng hận.
 
Nhà cầm quyền nào cũng lo cho nước của họ. Đương nhiên nhà cầm quyền Trung Cộng và Hoa Kỳ phải có những kế sách và chiến thuật có lợi cho chế độ của họ cho dầu sự có lợi đó có làm cho dân Việt phải uất hận. Vì quyền lợi của Hoa Kỳ, sau khi Liên Xô sụp đổ và Hoa Kỳ cần thi hành chính sách "bao vây" Trung Cộng không cho Trung Cộng quá lớn mạnh, năm 1995, Hoa Kỳ đã nối lại bang giao với CSVN. Năm nay đánh dấu 20 năm cho sự bang giao đó. Một khía cạnh nào đó, sự bang giao này có lợi cho cả Hoa Kỳ và Việt Nam.
 
Nếu nói chữ "hận" trong ý nghĩa của trách cứ thì chính người Việt phải tự trách cứ mình trước như cổ nhân đã dạy tiên trách kỷ hậu trách nhân. Sau Đệ Nhị Thế Chiến năm 1945, Đồng Minh họp mật ở Yalta quyết định chia cắt nước Nhật ra làm 3. Nhưng người dân Nhật đã tự sát phản đối để rồi nước Nhật không bị chia cắt, nhờ vậy họ mới được phú cường như hôm nay. Kissinger và Trung Cộng thỏa thuận để Mỹ bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa và hất chân Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc. Dầu bị hất chân ra khỏi Liên Hiệp Quốc, Đài Loan vẫn không bị mất cho Trung Cộng. Việt Nam Cộng Hòa đã không may mắn có những lãnh đạo trong sạch và sáng suốt như Lý Quang Diệu ở Singapore hay những lãnh đạo khác ở Nam Hàn. Dân Việt rất siêng năng cần cù nhưng lại có tính chủ quan hay bảo vệ quan điểm của mình đến cùng dầu có phải đánh nhau u đầu lỗ trán. Chính yếu tố này đã góp phần tạo phân hóa sức mạnh của quốc gia và cũng đã góp phần đưa đến biến cố đau thương 30/4/1975. Chính sự chủ quan này cũng góp một bàn tay đang làm cho cộng đồng Việt ở hải ngoại chia rẻ xáo trộn không phát triển mạnh được.
 
Cái "hận" chỉ được nguôi ngoai khi đất nước giàu mạnh, nhân quyền được tôn trọng, tự do ngôn luận được phát huy, đa đảng được thiết lập trong một cơ chế dân chủ thật sự.
 
Nói đến ý nghĩa phản kháng trong chữ "hận" thì có nhiều cách phản kháng. Phản kháng bằng cách chưởi Cộng cho đã cảm tính ghét thương thì rất dễ, nhưng chưởi dai chưởi dài hoặc chưởi lung tung, chưởi trật thì coi chừng bị phản tác dụng. Cộng Sản và nhất là Trung Cộng rất thích kiểu chưởi bới đó vì gây phân hóa sức mạnh của người phản kháng. Phản kháng đúng nghĩa thì phải có mục đích nhắm đến cơ hội thành công. Để thành công thì có chiến lược chiến thuật, lúc tiến lúc lui, lúc cương lúc nhu, biết nhẫn nhục, biết khai thác ưu và khuyết điểm của kẻ thù. Có người cho rằng phản kháng là phải lật đổ cho bằng được CSVN. Đó là ước muốn. Ước muốn là một chuyện, thực tế là một chuyện khác. Câu hỏi lấy đâu thực lực để lật đổ? Nếu chưa lật đổ được ngay, theo chủ nghĩa thực dụng (utilitarianism) thì giữa hai cái xấu chọn cái xấu ít hơn và làm sao cho cái xấu giảm thiểu đi từ 10 cái xấu xuống còn 9, rồi còn 8, cứ thế mà tiến cho đến một lúc nào đó cái xấu bị cái tốt đào thải
 
Đa đảng chỉ là mái của căn nhà dân chủ. Căn nhà dân chủ cần có những bộ phận khác như nền nhà tam quyền phân lập, cột nhà tự do ngôn luận, v.v. Có người thích tập trung sức lực để xây dựng mái nhà dân chủ, nhưng cũng có người thích đào đất đắp nền cho căn nhà dân chủ. Mỗi người ở một vị trí xây dựng căn nhà dân chủ nên khi thấy ai đó có những chiêu thức phản kháng khác mình, nếu mình chưa hiểu hết, xin kiên nhẫn để họ làm việc.
 
Lời Kết: Tháng 7 năm 2011, tôi viết bài "Sau 40 Năm Bí Mật" và tôi viết ở Lời Kết: "Chỉ có chế độ đa đảng và sự đoàn kết của người Việt trong và ngoài nước thì mới có đủ sức mạnh để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Thiếu một trong 2 yếu tố này, nguy cơ mất nước của Việt Nam rất là gần kề."  Ngày hôm nay tôi vẫn tin như vậy và tôi cũng muốn dùng đó là Lời Kết của tôi trong bài này./.

Hoàng Duy Hùng