Thursday, August 21, 2014

Xấu hổ quá!

Những nụ hôn vượt "biên giới" của "Bác"

Chủ Tịch Hồ được bảo hãy dừng hôn các em gái
"Nó vi phạm phong tục của Indonesia"

Jakarta, Thứ 7, 03, 1959 - Chủ tịch Hồ Chí Minh của Bắc Việt, 68 tuổi, đã bị bảo một cách thẳng thừng rằng phải ngưng việc hôn hít các em gái Indonesia và tôn trọng những điều dạy của Hồi giáo.

Báo chí Indonesia đã phê bình Chủ tịch Hồ về việc thường xuyên hôn hít trong chuyến viếng thăm 10 ngày xuyên qua Java và khu nghỉ mát quần đảo Bali.

Hôm nay, ông A. N. Firdaus, tổng thư ký của Toàn Quốc hội Hồi Giáo Indonesia tuyên bố: "Những hôn hít đó vi phạm luật Hồi giáo được 90% dân chúng Indonesia tin vào".
"Ảnh hưởng"

"Hôn hít các em gái nơi công cộng cũng là một vi phạm phong tục Indonesia."

Ông Firdaus bổ túc. "Có thể chủ tịch Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng quá nhiều bởi tuyên truyền cộng sản nên ông ta nghĩ rằng những giá trị đạo đức của Indonesia cũng tương tự như của cộng sản."

Tờ báo của cánh xã hội Pedoman, một trong những tờ báo hàng đầu của Jakarta mới đây cũng ám chỉ đến một bài chủ bút trên Harian Rakjat trong đó đã chỉ trích vụ sôi động này là "kết quả của văn hoá Mỹ" và bồi thêm rằng "chuyện hôn hít của Chủ tịch Hồ rõ ràng là sản phẩm mới nhất của văn hoá Liên Sô."

"Đoàn Kết"

Báo chí cộng sản đã nhào vào chống đỡ lãnh đạo Bắc Việt và gọi chuyện hôn hít của ông ta là "biểu lộ của sự đoàn kết và thương cảm, điều đã được thúc đẩy bởi Tổng thống Soekarno".

Tờ Harian Abadi cho rằng người trưởng khánh tân của Bộ Ngoại giao nên nói nhỏ vào tai những người khách của quốc gia rằng họ nên hành xử như thế nào".

Tờ báo cũng viết thêm: "Chúng ta thật tình không hiểu từ đâu mà những người khách ngoại quốc có cảm giác rằng ở đất nước chúng ta việc hôn hít những bà vợ và những con gái của chủ nhà là tạo nên một tục lệ cao quý.

"May mà Bác Hồ là một ông già"

Một nghị viên nữ của Nghị viện Indonesia, bà Mawardi Noor nói rằng việc hôn hít của Chủ tịch Hồ là điều đáng tiếc. "Tôi hy vọng cách cư xử của Hồ sẽ không trở thành tập quán ở đây."

Hồ Chủ tịch trở lại Jakarta hôm nay từ Bali.

Ông ta sẽ rời vào ngày mai để đi Medan, Sumatra nơi mà ông ta sẽ nghỉ tối trên đường về lại Hà Nội.

U.P.I
Nguồn: The Straits Times

Monday, August 18, 2014

Ngô Nhân Dụng giới thiệu "Đèn cù" của Trần Đĩnh

Ngô Nhân Dụng - Giới thiệu "ÐÈN CÙ, Số Phận Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản" của TRẦN ÐĨNH.

Ngô Nhân Dụng

Chia sẻ bài viết này
Quý vị phải lắng yên nghe bài Đèn Cù. Tự mình hát lên, hát cho thấm thía vào lòng, cho những câu dân ca văng vẳng trong đầu trong khi đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh. Khen ai khéo vẽ (ối a) đèn cù. Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh… Voi giấy (ối a) ngựa giấy, vòng quanh nó chạy tít mù. Đèn Cù, cũng gọi là đèn kéo quân, là một trong số đèn Trung Thu, đồ chơi cho trẻ em và cho cả người lớn. Quý vị sẽ dần dần nhìn thấy hoạt cảnh xã hội Việt Nam những hình nhân voi giấy, ngựa giấy tít mù nó chạy vòng quanh trên màn ảnh đèn cù trong hơn nửa thế kỷ. Trong đó có Trần Đĩnh. Một nhân chứng, một người tham dự trong đám Voi giấy (ối a) ngựa giấy lần lần hồi tưởng lại những cảnh cùng nhau chạy vòng quanh (ối a) tít mù. Nhiều tác giả đã viết về xã hội miền Bắc Việt Nam dưới chế độ cộng sản, dưới dạng hồi ký, tiểu thuyết, biện thuyết và lý luận, vân vân. Đèn Cù nổi bật lên trong tủ sách đó. Nếu không phải là kho chứng liệu quan trọng và đầy đủ nhất thì đây là cuốn sách đọc lý thú nhất. Rất nhiều chuyện mới nghe lần đầu. Rất nhiều chuyện cũ được nhìn dưới con mắt khác, thấy những khía cạnh chưa ai từng thấy. Quý vị sẽ cười, sẽ khóc, sẽ thắc mắc, sẽ dằn vặt, thao thức, kinh tởm, giận dữ, sót thương, khi bị cuốn theo những Voi giấy (ối a) ngựa giấy chạy quanh trong cái đèn cù.
Dưới cái tựa Đèn Cù, Trần Đĩnh gọi cuốn sách này là “truyện tôi.” Đọc xong thì hiểu tại sao tác giả không gọi nó là một “hồi ký” hay “tự truyện,” những loại văn quen thuộc khi người ta kể chuyện cuộc đời mình đã sống. Cuốn sách không viết theo phong cách hồi ký hay tự truyện, khi người viết có sẵn một bản đồ để viết theo, một mục tiêu muốn đạt tới. Đây cũng không phải là tiểu thuyết, tác giả không kể những chuyện mình tưởng tượng ra. “Truyện tôi” là một thể loại văn suôi mới, do Trần Đĩnh tạo ra. Mai mốt có thể sẽ không còn ai viết “truyện tôi” nữa. Mà có ai viết thì chăc chắn cũng không viết giống như Trần Đĩnh. Đèn Cù là một cuốn sách độc đáo.


Trần Ðĩnh, 1998, Trần Ðộ chụp - (hình: tác giả cung cấp)
Trần Đĩnh vốn là một thi sĩ, loại người thích sáng tạo ngôn ngữ, bầy đặt, đùa rỡn, vui chơi với ngôn ngữ. Đẽo gọt, mài rũa, “như thiết như tha, như trác như ma,” rùng mình sảng khoái hay quằn quại đau khổ với ngôn ngữ. Trước khi gia nhập tòa soạn báo Sự Thật, ở chiến khu Việt Bắc vào năm 1949, tuổi 19, ông đã viết báo rồi. Nhưng cuốn sách này tuyệt nhiên không dùng lối văn viết báo. Nhà báo không ai mở đầu một bài bằng mấy chữ: “Viết này vất vả,” rồi chấm câu. “Lười là rõ,” lại chấm câu. Cái khí văn đó tràn suốt tác phẩm. Có thể gọi đó là Khí văn Trần Đĩnh. Cũng như chúng ta có thể nhận ra Khí văn Phùng Quán, Khí văn Thanh Tâm Tuyền, vân vân, các thi sĩ có lúc viết văn suôi. Nó riêng biệt, văn đó đúng là người, mỗi người một vẻ.
Nhưng Trần Đĩnh vẫn giữ nguyên cái đức của người viết báo, là kể sự thật, kể những chuyện thật. Ông dùng một lối viết mà đọc tới đâu người ta cũng cảm thấy ngay: Đây là những chuyện thật, sự thật được bày ra, sự thật ròng, như thịt xương còn sống, tàu lá còn xanh, như gỗ mộc không sơn phết. Những suy tư, thao thức của tác giả được trình bày riêng, bên ngoài các sự kiện. Người viết không thêm thắt tình cảm, suy tư, phê phán, như thêm mắm muối, tiêu, hành, vào cho món ăn thêm mùi vị. Như khi ông thuật lời nhà báo Tiêu Lang đã chứng kiến cảnh mấy anh du kích đặt cái xác bà Nguyễn Thị Năm vào áo quan, áo quan nhỏ quá không vừa. Mấy anh bèn đứng lên trên xác bà đẩy cho lọt xuống. “Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy, sợ bị quy là thương địa chủ.” Hay khi ông kể chuyện về họa sĩ Phan Kế An, một trong bốn năm người cùng phụ trách báo Sự Thật lúc đầu. “Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái Z. tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy Z. đến nữa. Chắc ‘máy’ cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, ‘gu’ của cụ.” Trần Đĩnh cũng nhớ trong lớp học “chuẩn bị cải cách ruộng đất” tháng Bảy năm 1953, “Cụ Hồ đến giảng cách nhật, có lúc cụ đùa hô lên trong hội trường Hồ Chí Minh Muốn Nằm!” “Rồi tay chỉ vào đầu [nói]: Từ đây thì Bác già, nhưng từ đây (tay chỉ vào bụng) thì Bác trẻ.”
Trần Đĩnh kể chuyện vợ nhà thơ Lê Đạt, ông bị đưa đi lao động “cải tạo” vì tham gia nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Người đàn bà mang tội là “vợ Nhân Văn”... bị “cơ quan, tập thể liên tục ép bỏ chồng” nhưng bà không bỏ…” [N]hững đêm giá buốt Thúy diễn kịch ở Hải Phòng, Đạt từ chỗ lao động cải tạo xuống tìm vợ. Không có giấy chứng minh nhân dân, Đạt không thuê được nhà trọ, hai đứa ngồi ghế vườn hoa suốt đêm nghe còi tàu thủy hú thi với gió biển.” Một câu văn ngắn cho chúng ta sống cả một đêm dài nghe tiếng tầu thủy vang vọng trong tiếng gió hú. Tác giả đóng vai một nhân chứng, một người quan sát, chỉ thuật lại những gì mình nghe, mình thấy. Thời sau chiến tranh, báo Nhân Dân có cuộc họp năm sáu chục người “ôn lại thành tích tuyên truyền chiến tranh chống Mỹ. Nguyễn Sinh, xưa phóng viên thường trú Vĩnh Linh, Vĩnh Mốc lên nói. Lại tố cáo những chiến công giả người ta gán cho Mẹ Suốt, Trần Thị Lý sông Lấp Quảng Bình. Sông đã lấp thành tên [tên Sông Lấp] mà nhà báo cứ ca ngợi cô Lý oằn lưng chèo lái… Hầu hết nghe đều cười. Tự giễu và rộng lượng. Nhưng khi Sinh nói ở Vĩnh Linh, anh đã chứng kiến người bên kia bị ta bắt sang chôn sống kêu rất lâu dưới huyệt, tôi lại thấy mọi người mặt lạnh tanh.” Thêm một chuyện ngôi nhà của bà Lợi Quyền, một nhà tư sản đã nổi tiếng đóng góp nhiều vàng cùng với nhà cửa trong “Tuần Lễ Vàng” thời trước kháng chiến. Sau chiến tranh bà Lợi Quyền vẫn còn một ngôi nhà tại Hà Nội. Đầu thập niên 1980 “được ban Tuyên Huấn Trung ương đến hỏi. Chê đắt [không mua]. Đùng một hôm xe tuyên huấn chở mấy bao tải tiền đến mua, đắt cũng được. Ba ngày sau đổi tiền.” Tác giả ghi thêm: “Tố Hữu [phó thủ tướng đổi tiền], nguyên trưởng ban tuyên huấn đã hạ thời cơ tuyệt hảo...” Và ông nhắc lại bài Quốc Tế Ca hát rằng: “Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình!” Phê: “Quá giỏi!”


Ở văn phòng mới dọn đến của Tổng bí thư mùa thu 1949. Hàng đầu toàn ngồi xổm, từ trái qua, vợ Hà Xuân Trường, Lê Ðạt, Hồ Chí Minh. Ngoài cùng bên phải là Trường Chinh, áo blu dông Mỹ trắng. Hàng sau đứng đầu bên trái là Hà Xuân Trường, thư ký tòa soạn báo - (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)
Đèn Cù đầy rẫy những “đoạn phim” ngắn như vậy. Rất nhiều “clip” chợt hiện trên màn ảnh trong nửa phút, rồi chuyển ngay sang cảnh khác, liên tiếp chạy nhanh qua não bộ. Đoạn phim lưu đọng trong óc mình mãi mãi, trộn lẫn cùng những đoạn phim ngắn khác, không theo thứ tự thời gian, cũng không theo một dòng lý luận nào. Tất cả cho người đọc một toàn cảnh sống động về xã hội nước Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ, trước và sau khi tác giả đặt bút viết cuốn sách để đời này. Tất cả là “truyện tôi.” Nếu không có cái tôi sống, tôi quan sát, tôi rung động, tôi ghi nhớ, tôi suy nghĩ, thì không có “truyện tôi.” Trong trí não con người đời sống vốn không có trật tự, nó chợt hiện, chợt tắt, ngổn ngang, chắp nối, không xếp đặt theo không gian cũng không theo dòng thời gian đơn tuyến và trực tuyến. Đời sống thật vẫn như vậy. Đó là cảnh Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh. Cho nên Đèn Cù là một tác phẩm nghệ thuật. Đây là một sáng tác văn nghệ. Thử tưởng tượng có một người trước khi đọc không hề biết gì về bối cảnh lịch sử ở nước Việt Nam, chưa bao giờ nghe tên những nhân vật như Nguyễn Tư Nghiêm, Văn Cao, Lê Đức Thọ, Hồng Linh, Thép Mới, Lê Trọng Nghĩa, Hồ Chí Minh, Lê Đạt, Tô Hoài, Hồng Hà, vân vân; khi đọc Đèn Cù người đó cứ nghĩ đây là những nhân vật hoàn toàn do tác giả bịa ra. Độc giả nghĩ Trần Đĩnh sáng tác một cuốn truyện, sẽ thấy Đèn Cù là một thể loại tiểu thuyết mới, rất mới.


Tại tòa soạn báo Sự Thật: (từ trái) Diên Hồng, Nguyễn Địch Dũng, Kỳ Vân, Lê Quang Đạo, Trần Đĩnh, Trường Chinh, Lê Xuân Kỳ, Thép Mới, Hồng Vũ (sau này tự tử ở bệnh viện Nam Ninh, Trung Quốc)- (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)
Suốt cuộc đời cầm bút (ông mới tập dùng máy vi tính khi đã về già), Trần Đĩnh nói, “Tôi vẫn mong rồi có một quyển sách thật sự của tôi, của chính tôi.” Bởi vì, gần suốt cuộc đời viết, lách “tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình. Tôi vốn yêu viết. Nhưng đã không viết nổi. Đứa thủ phạm là tôi bắt tôi viết dưới bóng tối của Thù Hằn và Dối Trá...”
Trần Đĩnh biết rất nhiều chuyện. Trần Đĩnh coi Trường Chinh là thầy trong nghề báo, được ông tổng biên tập báo Sự Thật (Trường Chinh) dậy từng chữ khi anh nhà văn 19 tuổi mới vào trong A Tê Ka (An Toàn Khu), năm 1949. Anh ngủ chung lều với Lê Quang Đạo, nhiều lần phải hất tay Lê Quang Đạo ra, và nghe lời xin lỗi, “Chúng tớ ở tù lâu ngày sinh hư.” Anh ngồi sau lưng Hồ Chí Minh trong buổi lễ truy điệu Stalin chết; nhìn cảnh Tố Hữu diễn vai đau khổ ôm bức hình Stalin đặt lên ban thờ, sau nay nghĩ có lẽ ông ta khóc Stalin là khóc thật. Rồi nhìn thấy hộp thuốc lá Trung Hoa Bài do Hồ Chí Minh bỏ quên trên ghế bên cạnh, anh cầm lấy mang đến tận phòng, “Dạ, thưa bác, Bác để quên ạ!” Và nhìn thấy “Mặt cụ xưng lên, đầm đìa nước mắt, hai mắt húp lại... Cụ ngơ ngẩn nhìn tôi, nhìn hộp thuốc lá như không hiểu tôi vào làm gì...” Trong lớp chỉnh huấn chuẩn bị cải cách ruộng đất năm 1953, một hôm “Cụ Hồ nói: Các chú các cô không sợ người ta kêu mình kém trí thức, ít lý luận. Họ kêu thì bảo họ rằng tôi lú nhưng chú tôi khôn. Chú tôi là Stalin, Mao Trạch Đông…” Trần Đĩnh chắc là người đầu tiên tiết lộ Hồ Chí Minh đã tới quan sát cuộc đấu tố đầu tiên ở Đồng Bẩm, hóa trang che bộ râu để không ai nhận ra. Và Trường Chinh thì đeo kính đen tới dự, để rút kinh nghiệm mà rèn luyện các đội cải cách đấu tố cho đúng tiêu chuẩn thù ghét. Xưa nay nhiều người vẫn kể rằng Hồ Chí Minh không muốn giết bà Nguyễn Thị Năm, nhưng bị cố vấn Trung Cộng ép buộc nên phải giết. Trần Đĩnh đưa ra một bài báo ngắn do Hồ Chí Minh viết kết tội đích danh bà Năm đồng thời đả kích cả giai cấp địa chủ. Bài báo này, được dẫn chứng đầy đủ, dùng một bút hiệu, ký tắt, cho nên chỉ người bên trong tòa báo mới biết người viết là Hồ Chí Minh. Trần Đĩnh cũng là tác giả đầu tiên đã gặp cô Xuân (nhân vật đã được Vũ Thư Hiên kể trong Đêm Giữa Ban Ngày) ở trên chiến khu từ năm 1953, cô là “Con nuôi Bác.” Có lúc Trần Đĩnh đã nắm tay cô Xuân, khoe đã lấy tên cô làm bút hiệu viết trên báo. Ông cũng kể chuyện đi theo Hồ Chí Minh dự mít tinh rồi “đi lượn phố, thăm trường học” ở Móng Cái, năm 1960. Hồ viết lên bảng một chữ Hán “nhân,” rồi hỏi: “Trây sấn mà chề” nghĩa là “Đây là chữ gì?” nói bằng tiếng Khách Gia, Hakka, miền Nam gọi là tiếng Hẹ; là thổ ngữ của người gốc Hoa ở địa phương này. Tác giả thắc mắc, “tại sao đến đây Cụ đi chơi phố nhiều như thế? Khéo [cụ] đã ở đây thật?” Và có lúc đi trong phố “Cụ chỉ vào một ngôi nhà phía bên kia đường nói với tôi, đi bên cạnh: Ở nhà này ngày xưa có một chị bí thư chi bộ. Tôi ngợ ngay. Có quan hệ tình cảm gì [giữa cô đó] với Bác?” Trần Đĩnh là người đầu tiên cho biết đã nghe Hồ Chí Minh nói thông thạo tiếng Hẹ, và đoán rằng ông đã hoạt động cùng các đảng viên cộng sản ở Móng Cái từ thời trước. Chưa có một tác giả hay một người nghiên cứu lịch sử nào biết đến chi tiết này. Độc giả sẽ không ngạc nhiên khi đọc những tình cảm thân mến của tác giả với nhân vật Hồ Chí Minh; vì đã sống rất gần gũi trong nhiều năm. Trong lần đi thăm khu gang thép Thái Nguyên, “Sau bữa cơm trưa, thấy Cụ quần áo cánh nâu đi vòng ra sau dẫy nhà tranh đến rặng chuối thay hàng rào, tôi đi theo. … Thấy tôi gần như ở ngay bên, cụ quay ngoắt lại hỏi, điếu thuốc khẽ lật bật ở môi: ‘Người ta đái cũng theo à?’ ‘Không ạ, cháu …!’ ‘Thế đứng sát vào người ta nhòm gì?’” Rồi Trần Đĩnh kể tiếp, “Chiều ấy, khoảng bốn giờ về tới chủ tịch phủ, tha thẩn ở sân chờ lấy xe đạp … bất thần chợt nhớ đến Xuân, cô con gái nuôi của Bác. Hỏi mấy người đứng tuổi nom có vẻ quen từ trên rừng. A, cô Xuân ấy hả? Lấy chồng rồi. Chồng lái xe. Nhưng chết rồi. … bị ô tô đè …” Trong chương chót, Trần Đĩnh nêu một nhận định chung về Hồ Chí Minh: Lòng trung của Hồ Chí Minh đối với Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông là vô bờ. Cho nên lòng trung với nước Việt, dân Việt vơi đi.
Người thứ hai mà Trần Đĩnh có lòng cảm mến là Trường Chinh. Năm 1962 Trường Chinh đã nhờ Trần Đĩnh viết hồi ký, nhắc lại từ những ngày đi họp ở Pắc Bó năm 1941, với ý định dùng quá khứ vinh quang “phất một ngọn cờ tập hợp” phe mình. Nhưng sau đó tập hồi ký không dùng đến vì biết mình đã thua hẳn phe cánh Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh rồi. Nhiều người cũng muốn nhờ, vì Trần Đĩnh nổi tiếng khi viết hồi ký giúp cho người khác. Anh kể chuyện những người tù Côn Đảo, văn sống và khích động, như chính anh đã trải qua các gian khổ đó. Cuốn Bất Khuất (viết năm 1965) kể chuyện Nguyễn Đức Thuận, một người tù Côn Đảo tranh đấu trong tù, được đưa ra ngoài Bắc. Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Hoàng Tùng chủ trương dùng câu chuyện Nguyễn Đức Thuận để tuyên truyền khích động cho người miền Bắc ủng hộ cuộc tấn công vào miền Nam. Viết Bất Khuất, cái tên do Tố Hữu đặt, Trần Đĩnh không ký tên, tiền nhuận bút cũng nhường cho Thuận. “Vì không thích nói dối.” Nhưng được những độc giả như Trần Dần khen thì vẫn thích: “Mày viết cái Bất Khuất ấy, tao thích cái grammaire.” Nguyên Hồng thì bậm môi, vuốt râu nói: “Mày, Trần Đĩnh à, mày có tâm hồn, mày có nghệ thuật nên mày viết cái ấy cho Thuận hay.” Một lần năm 1960 gặp Vũ Kỳ (thư ký riêng của Hồ Chí Minh): “Vũ Kỳ bảo tôi sẽ cộng tác với anh viết hồi ký về Bác ‘khi Bác hai năm mươi.’ Viết xong tiểu sử, tôi (Trần Đĩnh) gửi lên cho Cụ một bản để duyệt. Cụ chữa từng trang. Có những đoạn viết ra ngoài lề: Xem lại? Hỏi lại? Bản thảo này tôi giữ.” Sau đó sách in ra, “Mừng tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ chủ tịch ra đời, Tố Hữu khao một bữa thịt chó thịnh soạn tại nhà” (Tố Hữu được lãnh nhuận bút 200 đồng vì có công đọc và kiểm duyệt, người viết chỉ được 400 đồng; còn “Huy Tưởng, Hoài Thanh chả [được] tẹo nào).
Trần Đĩnh cũng viết hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm (một trong vài ba đảng viên cộng sản đầu tiên). Lê Đức Thọ cũng có lúc muốn nhờ. “Cậu viết giỏi lắm, tớ rất thích. Không ở tù mà viết y như thằng đã ở tù… Tớ sẽ nhờ cậu viết hồi ký cái đoạn tớ chuẩn bị tổng khởi nghĩa rất hay.” Và Thọ hứa hẹn sẽ đem Trần Đĩnh theo phái đoàn sang Paris đàm phán. Sau Trần Đĩnh không viết, “Hú vía!” Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh nhờ viết hồi ký, đều từ chối. Trần Đĩnh làm việc gần với các lãnh tụ cộng sản Việt Nam từ năm 19 tuổi, cho nên biết nhiều chuyện. Như đến nhà Sáu Thọ, ngồi ngoài sân bên cạnh cái hầm tránh bom, thì nhận ra cái hầm này sâu 10 mét, trong khi cái hầm nhà Lê Thanh Nghị (anh đã nhiều lần xuống ẩn trong hầm này), chỉ sâu có tám mét, dù cả hai đều trong Bộ Chính Trị. Gần gũi họ, cho nên mới biết cảnh trong nhà Lê Đức Thọ một ông tướng chào Sáu Thọ xong, bước ra về mà cứ thế đi giật lùi, đến nửa cái sân mới dám quay lưng rồi tiến ra cổng. Nhìn mặt, thì ra Lê Đức Anh.

Tô Hoài (phải) và Trần Ðĩnh (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)
Trần Đĩnh sống trong cái đèn cù đó, trong lòng không yên. Anh bắt đầu nẩy mối bất nhẫn trong lòng khi chứng kiến những tội ác trong cuộc cải cách ruộng đất. Nhưng anh vẫn tin tưởng vào đảng, tin vào những động cơ tốt của các lãnh tụ. Chuyển biến tâm lý mạnh nhất phát sinh trong năm năm du học ở Bắc Kinh, sống qua thời kỳ các phong trào bước nhảy vọt, đánh hữu phái, công xã nhân dân, vân vân, từ 1955 đến 1959. Trong thư viện Đại học Bắc Kinh, một góc bày các sách cũ tiếng ngoại quốc, anh được đọc cuốn “Từ số không đến vô định” của Arthur Koestler; câu chuyện một người bị Stalin bỏ tù. Anh cũng được đọc báo Le Monde trong thư viện đại học, và biết chuyện tố cáo tội ác của Stalin trong đại hội thứ 20 đảng Cộng sản Liên xô. Nhưng ảnh hưởng quan trọng nhất là do anh sống bên người Trung Hoa, anh trực tiếp gặp nhiều sinh viên cùng tuổi, được nghe, được thấy, để biết chế độ Mao Trạch Đông giả dối, tàn bạo và coi khinh mạng sống dân chúng như thế nào. Khi Mao Trạch Đông cho phép “trăm hoa đua nở” báo Nhân Dân (Bắc Kinh) cũng đăng những bài phê phán đích đáng, mở mắt anh du học sinh người Việt “được thấy trí thức Trung Quốc sôi sục chống đảng.” Quan sát thực tế, lại thấy “dân Trung Quốc khốn khổ vì đảng.” Cho nên, “Tôi bắt đầu ‘hư hỏng’ (nghi ngờ đảng) vì đã nhận ra chân tướng đại bịp. Người ta lừa bịp đại trà được là nhờ khai thác những bản năng thấp kém của con người: Sợ và tham.” Từ đó, Trần Đĩnh chống Mao, kinh tởm Mao, sau khi về nước vẫn tiếp tục. Vì thế anh là đối thủ của đám các đồng nghiệp thần phục Mao trong báo Nhân Dân, mà anh gọi là bọn “Mao nhều.” Kiểu như Hồng Hà, người từng nghẹn ngào nói như mếu: “Tôi xin cảm ơn Mao Chủ tịch vĩ đại đã mở mắt ra cho tôi thấy Liên xô, Kroutchev là phản bội, đầu hàng, xét lại…”
Trần Đĩnh ghê sợ âm mưu lợi dụng của Mao Trạch Đông, vì nhớ mãi câu ông ta nói: “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ.” Chủ trương này dẫn đến cuộc chiến tranh Việt Nam. Mao chấp nhận chiến tranh nguyên tử. Tại Bắc Kinh, Trần Đĩnh được hai người bạn Trung Hoa làm báo tiết lộ về cuộc họp chi bộ trong Văn Nghệ Báo để nghe chỉ thị tối quan trọng. Hai anh kể, chỉ thị được ban xuống cho dân Trung Quốc thấu triệt là họ không phải sợ bom nguyên tử. “Vì dù Mỹ có ném xuống một nghìn quả bom nguyên tử, dẫu trái đất có bị tàn hoang đi nữa thì ít nhất cũng còn sót lại một huyện dân Trung Quốc, huyện ấy sẽ ương lại giống người trên trái đất này.” Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ. Cho nên Mao muốn phát động chiến tranh, “đánh Mỹ tới người Việt cuối cùng.” Mao cũng muốn đứng đầu phong trào cộng sản thế giới, sau khi thần tượng Stalin bị đàn em lật đổ. Lê Duẩn ngả theo chủ trương Mao; ghét những người muốn theo Cộng sản Nga muốn chung sống hòa bình với Mỹ và giảm bớt ách độc tài trong nước. Lê Duẩn từng ca ngợi Mao Trạch Đông là “Lê Nin của thời đại ba dòng thác cách mạng châu Á, châu Phi và châu Mỹ La Tinh.”
Đối nội, Duẩn tạo ra vụ án “xét lại, chống đảng;” đánh vào những người bị coi là thân Liên Xô. Lần đầu chỉ đánh giằn mặt bằng phê bình, kiểm thảo. Năm sau Chu Ân Lai sang Hà Nội phổ biến tin tức Mao đánh các đồng chí lãnh tụ trong đảng của ông ta rồi, Duẩn mở chiến dịch thứ hai, tống giam hết cả đám. Giống như đem họ ra làm vật “thế chấp” để được Mao ủng hộ. Trần Đĩnh cũng bị nghi ngờ, bị hạ tầng công tác, bị bắt giam và hỏi cung. Có lúc anh hãnh diện kéo chiếc xe hai bánh “diễu hành giữa thanh thiên bạch nhật, ở trung tâm Hà Nội, tươi tỉnh đi trình đường phố, nhận minh bạch đường hoàng mình chống đảng.” Lê Đức Thọ gọi Trần Đĩnh tới, kể tội đám xét lại cho nghe: “Vừa ở Paris về nghe an ninh nó nói cậu dính vào vụ chúng nó tớ... tiếc lắm... Tớ đã nói là tớ mến cậu vì cậu trẻ, cậu có tài...”
Đối với bên ngoài, Lê Duẩn bám sát chủ trương của Mao gây cuộc chiến tranh xâm chiếm miền Nam. Theo Trần Đỉnh thì Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp không muốn đánh, nhưng không chiếm được đa số nên chịu phục tùng. Khi cuộc Cách mạng Văn hóa gây lo lắng Trung Quốc sẽ loạn lớn, Lê Duẩn thấy phải đánh ngay, đánh trước khi Bắc Kinh tan vỡ không còn chỗ dựa. Cho nên mở cuộc tấn công Tết Mậu Thân. Sau này, Lê Duẩn theo Nga, chống Trung Cộng, thì lại hết lời mạt sát từ Mao Trạch Đông tới Đặng Tiểu Bình.
Đèn Cù đưa chúng ta vào một xã hội điên đảo, “sáng đúng, chiều sai, mai lại đúng.” Voi giấy (ối a) ngựa giấy, tít mù nó chạy vòng quanh…. Những đoạn phim thú vị nhất rút ra từ cuộc sống của những con người bình thường, các nhà văn, nhà báo, các cán bộ, những người qua đường.


Ở nhà Trần Đĩnh, trong khu văn công Cầu Giấy.
Từ trái sang: vợ chồng Đoàn Viết Hoạt, Trần Đĩnh, Mây, con gái TĐ và Thiếu Khanh, con út vợ chồng Hoạt. (hình do tác giả Trần Đĩnh cung cấp)
Nhà báo Minh Tường từ Hà Nội, theo đoàn quân chiến thắng vào Sài Gòn. Anh tìm được đến nhà mẹ mình, bấm chuông. Bà mẹ mở cửa ra, chấp hai tay vái lạy: “Thôi, tôi xin anh, anh đi với các đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên.” Trần Đĩnh đứng với Tô Hoài trên lề đường nhìn toán tù binh Mỹ bị đưa diễn trên đường phố Hà Nội cho dân chửi rủa, ném đá. Khi người phi công cuối cùng qua trước mặt, bỗng Tô Hoài chạy ra với tay đấm vào mặt (đấm hụt). Tô Hoài giải thích, mình phải bày tỏ lập trường; nếu không có đứa nào nó báo cáo mình đứng ngoài coi trong lúc “nhân dân căm thù” thì nguy. Có ai được nghe lời Trần Độ tâm sự, sau khi đã tỉnh ngộ, viết Nhật Ký Rồng Rắn: “Này, nói thật chứ bây giờ... hễ nghe thấy cái gì là sự thật thì trong người sướng ghê lắm ấy!” Có ai được nghe một nữ nhân viên báo Nhân Dân đã về hưu bày tỏ nỗi oán hận: “Ông cha đổ bao xương máu giành được độc lập nhưng nô lệ vẫn hoàn nô lệ!” Trần Đĩnh rất gần Lê Đạt. “Một hôm Lê Đạt bảo tôi: Nhà thơ có lẽ là người yêu nước nhất. Họ chăm lo nhất đến tiếng mẹ đẻ…. Đạt nhiều lần giục tôi viết: Tiểu thuyết về mày, gia đình mày – Tôi im lặng. Biết viết là cực kỳ cô đơn. Và quả tình tôi đã thật sự cô đơn – đúng ta là bí mật – trong bao nhiêu năm với cuốn sách này.”
Sống hầu hết cuộc đời trong một xã hội mà Đảng Cộng sản và lãnh tụ chiếm “đặc quyền viết, đặc quyền nói;” chỉ dùng các nhà văn làm đầy tớ, “Ôi đã làm đầy tớ thì có đời thuở nào còn dám sáng tạo?” Bây giờ Trần Đĩnh đã viết. Lúc đầu, ông chỉ định viết để “tố cáo tội gây nội chiến Nam Bắc là sai lầm;” trong khi viết thì đổi ra hướng “phê phán toàn diện.”
“Vâng, tôi xin đối mặt với công luận đây. Tôi ăn gian nói dối thì các ông cứ việc vạch ra.” Đó là lời Trần Đĩnh, tác giả Đèn Cù. Xin mời quý vị bước vào, cùng sống trong cảnh Voi giấy (ối a) ngựa giấy, vòng quanh (ối a) nó tít mù.
Ngô Nhân Dụng

Đảng và Vua

Nguyễn Văn Thạnh - Đảng và Vua

K.s Nguyễn Văn Thạnh
Chia sẻ bài viết này

Tôi thấy ở đảng là hình ảnh của Vua.
 
Thời phong kiến: Nếu ngày nay có một phép lạ là vị anh hùng dân tộc Lê Lợi sống dậy, nói với muôn dân rằng “xưa nước nhà bị quân Minh xâm chiếm, toàn dân tộc phải sống kiếp nô lệ với thảm cảnh “nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống hầm tai vạ”, ta có công đánh đổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi, quyền lãnh đạo đất nước này muôn đời của ta và con cháu ta. Các ngươi phải bàn giao chính quyền lại cho con cháu ta” thì sẽ thế nào?
Ngày xưa khi nước ta còn có vua, người dân chưa biết đến các quyền cơ bản của con người. Vì vậy họ tin đất nước này là của vua – vì vua là con trời (thiên tử) sai xuống để cai trị. Họ chấp nhận cho vua quyền lãnh đạo, quyền sinh sát và Vua bắt mọi người phải phục vụ mình. Chẳng hạn như vua có quyền đem dân chúng và đất đai cho bất kì ai để có được một cái lợi nào đó như lấy được công chúa con vua khác. Ngày nay người dân đã biết đến các quyền cơ bản của con người. Cho nên dù là anh hùng dân tộc, có công lớn đánh đuổi ngoại xâm, nhưng chắc chắn là điều trên không ai ủng hộ và chấp nhận.
Tư tưởng chính trị hiện đại: Ngày nay, ai cũng biết quyền lực nhà nước đến từ sự ủy quyền của người dân, không còn kiểu Vua, cha truyền con nối nữa. Bất cứ ai muốn nắm quyền phải vận động tranh cử, phải có chương trình hành động mang lại lợi ích cho người dân, trên cơ sở đó thuyết phục họ bỏ phiếu bầu mình. Đây là sinh hoạt chính trị thành nếp ở các nước văn minh. Và gần như dân xứ nào hết chế độ vua chúa cũng biết và thực hiện như vậy.
Nghệ thuật biến hóa của đảng: Một điều thực tế là hiện nay nếu một cá nhân hay một tổ chức nào đứng ra cai trị nhân dân đời đời kiếp kiếp, “cha truyền con nối” mà không có sự ủy quyền của người dân đều là phi pháp dưới con mắt người dân cũng như thế giới. Vậy ĐCS muốn cai trị mãi mãi và muốn hợp thức hóa điều trên, họ làm thế nào?
Trước hết vấn đề phải hợp pháp hóa vị trí Vua của họ: ghi vào hiến pháp điều 4 để khẳng định quyền lãnh đạo độc tôn, toàn diện, mãi mãi không ai được quyền thay thế họ. Nên nhớ là hiến pháp này được quốc hội thông qua trên 99% đồng ý và điều đặc biệt ở đây là đến hơn 95% các đại biểu là đảng viên ĐCS. Đây là một điều phi pháp chưa có quốc hội nước nào làm trừ nước Đức dưới thời phát xít Hitler. Sẽ như thế nào nếu các nước dân chủ, khi đảng nào đó nắm quá bán ở quốc hội tiến hành bỏ phiếu sửa đổi hiến pháp điều tương tự. Thật nực cười đúng không? Rõ ràng đây là hành vi tiếm quyền phi pháp. Điều này cho thấy sự không chính danh của điều 4 hiến pháp. Đó là lý do vì sao ông Nguyễn Minh Triết phải hốt hoảng “bỏ điều 4 là tự sát”.
Điều biến hóa tiếp theo là: ĐCS không thể nhân danh thánh thần, thiên tử để đứng ra cai trị nên họ cần lập bình phong cho việc này. Họ lập ra các tổ chức hợp pháp: quốc hội, chính phủ, chủ tịch nước. Và họ đạo diễn việc bầu cử cho có tính dân chủ nhưng kỳ thực rất mị dân. Bỡi lẽ: người được bầu là người họ cử ra (đảng cử-dân bầu), dân bầu ai không quan trọng vì cuối cùng thắng cử vẫn là người của đảng. Còn điều này nữa: đó là người tổ chức bầu, người giám sát, người kiểm phiếu, người công bố, truyền thông kết quả đều là người của đảng. Với vở kịch bầu cử này thì họ muốn có một con bò ra lãnh đạo cũng được: chỉ việc cử hai con bò ra ứng cử, thế nào cũng có một con trúng cử. Rõ ràng việc bầu bán là một trò hề, tốn thời gian, tiền của nhân dân. Họ đã ảo thuật việc nắm quyền phi pháp qua một vở kịch bầu cử. Đó là lý do vì sao có những tên đại biểu quốc hội ngồi vào ghế chỉ để ngủ trong khi dân ở mọi miền lầm than.
Lãnh đạo cái xứ sở nhỏ bé, còn nghèo nàn này không phải một hệ thống quyền lực mà có hai hệ thống chạy song song từ trung ương đến địa phương: hệ thống đảng và hệ thống nhà nước. Cao nhất hệ thống đảng là bộ chính trị với vị tổng bí thư, cao nhất bên nhà nước là chính phủ với vị thủ tướng và buồn cười là vị thủ tướng cũng có chân ở bộ chính trị, dưới quyền vị tổng bí thư. Dân nghèo khổ nhưng phải è cổ đóng thuế để nuôi hai hệ thống cai trị này. Tại sao cần đến hai hệ thống? Vì một thực quyền nhưng phi pháp: đảng, một ảo nhưng hợp pháp và bù nhìn: chính phủ. Dân Việt thật sự bị nạn một cổ hai tròng.
Xưa khi nước ta dưới chế độ phong kiến tài sản đất nước: đất đai, rừng, biển là của Vua. Vua tuyển quan lại giúp việc mình, cấp bổng lộc cho họ, vua muốn lấy đất nơi nào, cấp cho ai là quyền của Vua, toàn bộ nguồn sống của một đất nước là của Vua. Vì vậy nhân dân ăn gì, uống gì, làm gì cũng nghĩ là ơn Vua. Ngày nay chuyện như vậy rõ là chuyện ngu muội. ĐCS đã biến điều ngu muội đó thành hiện thực thế nào?
Cũng giống như vua, họ cần có quyền hành với mọi tài sản, mọi kế sinh nhai trên đất nước. Tất nhiên không thể tuyên bố đất của đảng, nước của đảng, trời của đảng như Vua được. Vậy họ làm cách nào? Một ảo thuật tuyệt vời cho vấn đề này: sở hữu toàn dân, nhà nước quản lý. Cái thực thì họ nắm, cái danh thì dân giữ. Nghe đến sở hữu toàn dân “người dân ai cũng có phần ở nhà máy, sân bay, bến cảng, rừng vàng, biển bạc,...”, họ có vẻ vui sướng vì điều đó. Đó chỉ là cái danh hão, dù họ là kẻ hành khất xin ăn qua ngày cũng chẳng vì sở hữu đó mà khá hơn. Thực tế thì mọi nguồn sống, nguồn lực nằm trong tay đảng, vì sao vậy? Vì tất cả các cán bộ điều hành, quản lý từ chính quyền đến doanh nghiệp đều là người của đảng. Vì vậy mới có chuyện nực cười đảng muốn lấy đất của ai thì lấy, bồi thường mức nào do đảng quyết dù có phi lý đến mức không tưởng “bồi thường 5.000 m2 đất giá 2 triệu, giao cho chân tay bán lại giá vài tỷ”, nếu dân không tuân lệnh đảng sẽ dùng công an, quân đội cưỡng chế. Nếu có khiếu nại hoặc kiện cáo thì người điều tra, xét xử cũng là người của đảng. Nếu cần tranh luận thì đảng dùng bộ máy truyền thông khổng lồ của mình từ trung ương đến địa phương để định hướng dư luận, để lu loa hoặc bưng bít. Nên chú ý là tất cả các việc làm đó đảng sẽ dựa vào các bình phong “chính phủ, nhà nước” để hợp pháp hóa. Rõ ràng đảng khôn ngoan và thâm sâu.
Tất cả kế sinh nhai là nằm trong tay Đảng. Đất đai thì bị thâu tóm bỡi chiêu bài sở hữu toàn dân. Nhà máy, cơ sở công nghiệp thì chiêu bài quốc hữu hóa. Nếu ai đã trải qua giai đoạn bao cấp thì biết sự kinh hoàng khi nguồn sống nằm trong tay đảng với cái tem phiếu mua gạo. Còn nghiệt ngã hơn thời vua chúa. Hiện nay có nới lỏng hơn nhưng nguyên lý trên vẫn còn: đất đai, điện, xăng dầu, cảng biển, nhà máy, xí nghiệp quan trọng, viễn thông, truyền thông,….đều nằm trong tay điểu khiển của đảng. Ai chống đảng trong cái xứ sở này là có nguy cơ không có đất dung thân.
Tính pháp lý của chức tổng bí thư: Chúng ta thấy một thực tế ở nước ta nguyên thủ đảng là nguyên thủ đất nước. Thực tế đó tồn tại là dựa trên sự tiếm quyền bất hợp pháp của ĐCS hiện nay. Đúng lý ra nguyên thủ đất nước phải là do dân bầu vì quyền lực nguyên thủ đến từ sự ủy quyền của dân, họ phải do dân chọn. Ông Nguyễn Phú Trọng chỉ được các nước cùng phe nhóm: Cuba, Trung Quốc, Bắc Hàn xem là nguyên thủ, còn tất cả các nước có nền dân chủ đa nguyên không xem là nguyên thủ, chỉ xem như đảng trưởng của một nhóm người.
Trên đây là vài nét để chúng ta thấy tính không chính danh hiện nay của ĐCS trong việc độc tôn nắm quyền đất nước. Họ là một bản sao của chế độ phong kiến xưa kia: độc tôn, cha truyền con nối, nắm hết tài sản-sinh kế người dân trong tay. Chỉ khác là họ biến hóa một chút cho hợp thời bằng những thủ đoạn tinh tướng: bầu cử trò hề, lập quốc hội bù nhìn, lập chính phủ tay sai để dễ bề điều khiển. Mọi quyền lực thực của đất nước nằm ở bộ chính trị mà cái bộ này chẳng do người dân bầu, nó là một nhóm chóp bu của một băng đảng mang tên ĐCS.

Kết luận: Lịch sử Việt Nam vẫn chưa qua chế độ phong kiến thối nát mà còn tệ hơn chế độ phong kiến, chỉ có một sự khác biệt nhỏ là thay vì một vị là làm Vua, chúng ta có Vua tập thể với 14 vị. Điều cay đắng là 14 vị này gánh trách nhiệm giang sơn đất nước không nặng như các đấng thiên tử xưa kia, thưa đồng bào!

K.s Nguyễn Văn Thạnh

Saturday, August 16, 2014

Hố Chôn Người Ám Ảnh


Hố  Chôn Người Ám Ảnh
Trần Đức Thạch
(Cựu chiến binh QĐND/XHCNVN bị lãnh đạo VC bỏ tù 3 năm)
 
Tháng 04/1975, đơn vị  chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn, nhằm không cho các đơn vị quân lực Việt Nam cộng hoà tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời kêu gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15.
Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ  tung toé giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh quân lực Việt Nam Cộng Hoà bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.
 
... Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. Ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.
- Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8 đây!
Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng. 
Tôi quát:
- Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.
Mấy ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:
- Anh ơi! đây là lệnh.
- Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!
- Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!
- Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!
Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi giật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:
- Ai bắn đấy?
- Đại đội phó Hường đấy anh ạ!
- Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm trộn máu. Tôi bị sốc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ ngụy ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:
- Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!
- Không lo, có tôi đi cùng!
Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:
- Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh. Thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.
Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình. Bằng mọi nỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thầy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ: “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc? Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”
Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:
- Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.
- Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.
*
Đã mấy chục năm qua, khi hàng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30/4 thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình dung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác. Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tuỷ câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhoà được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân huy chương do Đảng và Nhà nước trao tặng sau này chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này. 
                                                                                   *
Sau ngày 30/04/1975 tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:
- Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả nút. 
Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ Hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập...
Thời gian trôi, tôi từ một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói . Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.
Trần  Đức Thạch
Cựu phân đội trưởng trinh sát 
Tiểu đoàn 8 - Trung đoàn 266
Sư đoàn 341 - Quân đoàn 4

Kênh đào Panama

Kênh đào Panama:
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/multimedia/2014/08/140815_panama_100years.shtml

Lữ Giang: Đàng sau chiến lược của Mỹ

Đàng sau chiến lược của Mỹ
Lữ Giang
Việc thực hiện chiến lược của Hoa Kỳ ở Trung Đông đang gây ra nhiều biến động quan trọng trong nhiều vùng trên thế giới như một dây chuyền: Nga biến bán đảo Crimea của Ukraina thành lãnh thổ của Nga, Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương-981 ra khoan thăm dò dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, phiến quân Hồi Giáo Sunni thành lập Nhà Nước Hồi Giáo, mở cuộc tấn công vào vùng của người Kurd ở phía bắc Iraq và Tổng Tống Obama ra lệnh oanh kích "để bảo vệ người dân",  v.v. Đa số có thói quen suy nghĩ theo cảm tính tưởng rằng đó là những vấn đề riêng rẽ, nhưng tưởng vậy mà không phải vậy! Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy tất cả đều là hệ quả của chiến lược của Hoa Kỳ ở Trung Đông.
Trong bài “Từ cuộc chiến với Hồi Giáo thành cuộc chiến Nga – Mỹ” phổ biến ngày 31.7.2014 chúng tôi đã nói rằng sau biến cố 911, chiến lược của Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương gồm hai kế hoạch:
Kế hoạch thứ nhất là nghiền nát khối Hồi Giáo cực đoan để những biến cố như thế không tái diễn nữa. Kế hoạch này được mệnh danh là “vẽ lại bản đồ Trung Đông” hay “Trung Đông Mới”.
Kế hoạch thứ hai là đẩy Trung Quốc và Nga ra khỏi Địa Trung Hải để đảm bảo nhu cầu năng lượng của mình” (lời của cựu Thứ Trưởng Tài Chánh Mỹ Paul Craig Roberts).
Đó là chiến lược do nhóm siêu quyền lực Mỹ đưa ra, dù Đảng Cộng Hòa hay Đảng Dân Chủ cầm quyền cũng phải thực hiện. 
Hôm nay chúng tôi xin triển khai thêm.
VẼ LẠI BẢN ĐỒ TRUNG ĐÔNG
Dưới thời đế quốc Hồi Giáo Ottoman (1299 – 1922) cai trị một vùng rộng lớn xuyên lục địa trong 6 thế kỷ với 36 vị vua, khối Hồi Giáo Trung Đông được đặt dưới quyền thống trị của đế quốc này, sống nghèo khổ và cơ cực. Với sự đồng ý của Nga, đại diện của Anh và Pháp đã ký mật ước Sykes-Picot (Sykes–Picot Agreement) ngày 16.5.1916 có tên chính thức là “Hiệp Ước Tiểu Á” (Asia Minor Agreement) phân chia nhau vùng Trung Đông. Sau thế chiến thứ nhất, đế quốc Ottoman tan rã, hiệp định Versailles được ký ngày 28.6.1919 tại lâu đài Versailles ở Paris và được Hội Quốc Liên phê chuẩn ngày 10.1.1920. Phe đồng minh thắng trận đã chia nhau đế quốc Ottoman. Từ đó tiến tới hình thành dần các quốc gia trong vùng Trung Đông được phân chia như ngày nay sau khi đế quốc Anh và Pháp rút lui khỏi vùng này.
Tuy nhiên, sau vụ 911, một bản đồ “Trung Đông Mới” đã được Trung Tá về hưu Ralph Peters thuộc “U.S. National War Academy” vẽ ra và được phổ biến trên “Armed Forces Journal” vào tháng 6 năm 2006. Ông tin rằng với ranh giới mới mà ông vẽ ra, bản đồ sẽ giải quyết căn bản những vấn đề của Trung Đông ngày nay. Cũng trong tháng 6 năm 2006, khi đến Tel Aviv, Israel, Ngoại Trưởng Mỹ Condoleezza Rice đã nói đến một “Trung Đông Mới” (New Middle East). Với bản đồ mới này, một số nước Trung Đông sẽ bị bể ra thành nhiều mảnh.
Báo New York Times ngày 28.9.2013, dưới đầu đế “How 5 Countries Could Become 14 (Làm thế nào để 5 nước trở thành 14) đã công bố bản đồ Trung Đông Mới, khởi đầu từ Syria và Iraq: (1) Kurd ở bắc Iraq nối kết với Kurd ở Syria làm thành một vùng tự trị của người Kurd ở cực bắc Iraq. (2) Giáo phái Sunni thành lập một quốc gia mới gồm một phần Syria và một phần bắc Iraq. (3) Giáo phái Shiite giữ phần phía nam Iraq. Ngày nay sự phân chia này đã được thực hiện.

Bản đồ "Trung Đông Mới"
Điều đáng ngạc nhiên là sự hình thành Nhà Nước Hồi Giáo Iraq để chiếm vùng đã định cho người Sunni. Theo báo cáo  của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế về "Cán cân Quân sự 2013", Mỹ dự trù bán cho Saudi Arabia 15.000 hỏa tiễn chống tăng Raytheon, trị giá trên 1 tỷ USD. Lúc đó Saudi Arabia đang có hơn 4.000 tên lửa này. Saudi Arabia mua các tên lửa chống tăng để làm gì? Sau đó các nguồn tin cho biết Saudi Arabia đã cung cấp võ khí cho al-Qaeda và kháng chiến quân ở Syria! Lãnh tụ Sunni là Abu Bakr al-Baghdadi đã đánh cướp những vũ khí này và dùng nó để quay về chiếm phía bắc Iraq và thành lập Nhà Nước Hồi Giáo (Islamic State)!


Vì Hoa Kỳ không chịu cấp vũ khí cho Iraq chống lại loạn quân Sunni nên Thủ Tướng Maliki phải đi mua vũ khí của Nga đồng thời liên kết với Iran và Syria thành một vòng đai bảo vệ khối Shiite về cả quyền lợi kinh tế lẫn quân sự. Hoa Kỳ tố cáo ông ta không liên kết được các thành phần sắc tộc và giáo phái nên tìm cách loại. Thật sự Hoa Kỳ không muốn khối Shiite ở Iraq vượt ra ngoài ranh giới đã được “vẽ lại”!
Ngày 11.8.2014, ký giả Brad Plumer đã viết một bài khá dài trên vox.com nói về việc quân của Nhà Nước Hồi Giáo Iraq mở cuộc tấn công vào các khu dầu hỏa trong vùng của người Kurd ở phía bắc Iraq, nơi các công ty dầu lửa của Mỹ như Chevron, Genel, ExxonMobil đang khai thác và Tổng Tống Obama đã ra lệnh oanh kích để "bảo vệ người dân" và cứu trợ nhân đạo!
Chuyện “vẽ lại bản đồ Trung Đông” còn dài, chúng tôi sẽ nói trong một bài khác.
HOA KỲ GIỮA HAI THẢM HỌA
Có hai thảm họa mà Hoa Kỳ và các cường quốc Tây phương đang phải đối phó là sự vùng dậy của các nhóm Hồi Giáo quá khích và sự bành trướng của Trung Quốc. Nhưng thảm họa thứ nhất nguy hiểm hơn, cần phải trấn át ngay. Tuy nhiên, ông Walter Russell Mead, giáo sư khoa quan hệ quốc tế thuộc Đại học Bard ở New York đã báo động: “Nếu nguồn cung cấp dầu ở vùng Vịnh bị cắt đứt, các nền kinh tế Trung Quốc, Nhật Bản và châu Âu chắc chắn sẽ sụp đổ, kéo theo hệ lụy đối với hệ thống tài chính Mỹ.”


Thực tế là cuộc tấn công Hồi Giáo ở Trung Đông đã và đang gây thiệt hại cho cả Trung Quốc lẫn Nga. Một thí dụ cụ thế, khi các nước Tây phương tấn công Lybia, Trung Quốc đang có 75 công ty hoạt động đầu tư ở đây. Số lượng cán bộ và nhân viên Trung Quốc ở Libya vào đầu năm 2011 là 36.000 người, tổng giá trị các hợp đồng mà Trung Quốc đã ký kết với Lybia gồm hơn 50 dự án đầu tư xây dựng lên đến 18,8 tỷ USD. Cuộc đánh chiếm Libya đã làm Trung Quốc trắng tay. Nếu Mỹ và Tây phương tấn công Syria, Trung Quốc cũng sẽ mất nhiều hơn ở Lybia. Trung Quốc đang nhập cảng của Iran khoảng 20% tổng số dầu nhu cầu của Trung Quốc.
Như chúng tôi đã trình bày, khi nói chuyện với Press TV, ông Paul Craig Roberts, cựu Thứ trưởng Tài chính Mỹ và hiện là biên tập viên của tờ Wall Street Journal, cho biết sở dĩ Mỹ phải chiếm Libya vì Libya kiểm soát một phần của bờ biển Địa Trung Hải vượt ra ngoài tầm tay của Mỹ. Một lý do khác là “chúng tôi muốn đẩy Trung Quốc và Nga ra khỏi Địa Trung Hải để đảm bảo nhu cầu năng lượng của mình”. Nhưng khi được hỏi tại sao lúc đó Nga và Trung Quốc không phủ quyết nghị quyết của Hội Đồng Bảo An LHQ, ông nói: “Chúng tôi không biết các lý do, nhưng chúng tôi biết họ đã nhịn và họ không đồng ý về chính sách và họ tiếp tục chỉ trích nó.”
Hiện nay Nga đang sừng sổ với Mỹ còn Trung Quốc nhịn. Tại sao Trung Quốc nhịn? Nhiều dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ đã ngầm để cho Trung Quốc khai thác dầu ở Biển Đông cho êm chuyện, vì họa Hồi Giáo nguy hiểm hơn phải thanh toán trước, còn “họa da vàng” (péril rouge) diễn biến chậm, để một hai chục năm nữa cũng chưa muộn.
CHỈ LÀ CHIẾN THUẬT TRẤN AN
Việc Trung Quốc đặt giàn khoan HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã gây nhiều hoang mang đối với các nước trong vùng, nên Mỹ phải tìm cách trấn an. Ngày 13.7.2014, Thượng Viện Hoa Kỳ đã thông qua nghị quyết về Biển Đông, yêu cầu Trung Quốc phải trở lại nguyên trạng trước ngày mùng 1 tháng 5, tức trước ngày Bắc Kinh đưa dàn khoan Hải Dương 981 vào hoạt động trong thềm lục địa của Việt Nam.
Hôm 8.8.2014, Thượng nghị sĩ John McCain tuyên bố đã đến lúc Hoa Kỳ nên nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, vì Hà Nội đã có tiến bộ về nhân quyền. Nhưng ông nhấn mạnh Hà Nội cần cải thiện nhân quyền đủ để đạt được sự ủng hộ đó. “Cải thiện nhân quyền” nói ở đây có nghĩa là Việt Nam phải xa dần Trung Quốc ra!
Ngày 13.8.2014 Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham Mưu Trưởng Liên Quân Mỹ, đã đến thăm Hà Nội. Đài BBC ngày 14.8.2014 nói: “Sự kiện này diễn ra sau một loạt các chuyến đi của chính giới Mỹ tới Việt Nam, gây phỏng đoán về quyết định bỏ cấm cận vũ khí sát thương của Mỹ đối với Việt Nam, mở đường cho quan hệ quốc phòng giữa hai nước cựu thù.”
Nhưng kết quả hội nghị của các Ngoại Trưởng ASEAN tại Miến Điện trong hai ngày 8 và 9.8.2014 vừa qua đã làm nhiều người thất vọng. Hội nghị đã kết thúc bằng một bản tuyên bố chung dày 55 trang gồm 166 điều khoản, trong đó có 7 điều khoản liên hệ đến Biển Đông, nhưng toàn là sáo ngữ, không có gì cụ thể và cũng không dám đụng đến Trung Quốc. Thí dụ:
Chúng tôi tiếp tục quan ngại sâu sắc về những diễn biến gần đây làm gia tăng căng thẳng ở biển Đông và khẳng định lại tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh biển cũng như tự do hàng hải và hàng không ở biển Đông” (khoản 149)


Đây là những chuyện đã được nói đến hàng chục lần nhưng chẳng đi tới đâu cả.
QUẬY HAY KHÔNG QUẬY?
Đến đây, hai câu hỏi được đặt ra.

Câu hỏi thứ nhất là liệu Hoa Kỳ có chận đứng sự xâm lấn của Trung Quốc trong Biển Đông hay không? Theo chúng tôi, hiện nay Hoa Kỳ sẽ không công khai đứng ra chận đứng sự xâm lấn của Trung Quốc vì các lý do sau đây:

(1) Hoa Kỳ đã nhiều lần tuyên bố Hoa Kỳ sẽ không dính líu gì đến việc tranh chấp giữa các quốc gia về chủ quyền trên  Biển Đông.

(2) Tương quan quyền lợi giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc còn quá nhiều, Hoa Kỳ không muốn để mất những quyền lợi đó.

(3) Hoa Kỳ phải dành cho Trong Quốc một lối thoát ở Biển Đông khi đẩy dần Trung Quốc ra khỏi khu vực dầu lửa ở Trung Đông, nếu không Trung Quốc sẽ có những phản ứng bất lợi.

(4) Hoa Kỳ không muốn đẩy Trung Quốc đứng về phía Nga, vì điều đó sẽ gây khó khăn cho chiến lược của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ chỉ giúp các nước trong vùng “tự vệ” chứ không bảo vệ họ.


Câu hỏi thứ hai: Với sự chiêu dụ của Mỹ hiện nay, liệu Đảng CSVN có tách rời Trung Quốc và đi theo Mỹ hay không?
Người Việt có câu tục ngữ Xúi con nít ăn cứt gà”. Với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, áp dụng câu này quá dễ, vì ông ta không cần biết địch và đồng minh đang làm gì, cứ suy nghĩ và hành động theo cảm tính, nên Mỹ “xúi ăn cứt gà” không có gì khó khăn. Mỹ chỉ nhờ Tướng Ted Seron, một tướng chống du kích người Úc, tới xúi ông thành lập kế hoạch “đầu bé đít to”, bỏ Cao Nguyên và miền bắc Trung phần, rút quân về lập phồng tuyến ở Tuy Hòa, thế là không đầy 40 ngày miền Nam bị mất.
Trái lại, Đảng CSVN là một tổ chức tập thể chỉ huy, nên khó có thể “xúi ăn cứt gà” như xúi ông Thiệu. Đảng CSVN biết rất rõ Trung Quốc và Mỹ đang làm gì, nên vừa bám lấy Trung Quốc vừa bám lấy Mỹ để tồn tại. Mọi biểu diễn chống Trung Quốc hay chạy theo Mỹ hiện nay của Hà Nội chỉ là những kịch bản để trấn an dư luận.

Giống như miền Nam ngày xưa, Biển Đông bây giờ không còn nằm trong tầm tay của các nước trong vùng nữa, mà trở thành món hàng giữa Mỹ và Trung Quốc. Quậy hay không quậy cũng thế thôi. Rồi sẽ thấy “con tạo xoay vần đến đâu”!
Ngày 14.8.2014
Lữ Giang