Wednesday, October 19, 2016

Trí thức Việt nam bị XHCN vùi dập


1. Trí thức NGUYỄN MẠNH TƯỜNG

Năm 1936, cậu thanh niên 27 tuổi, với hai bằng tiến sĩ từ mẫu quốc hồi
hương, tương lai sáng rỡ như mặt trăng mặt trời. Cậu trở thành giáo sư
trường Lycée du Protectorat tức trường Bưởi, rồi cậu mở văn phòng luật
sư tại hai biệt thự tại thủ đô Hà Nội. Khi cộng sản cướp chính quyền,
cậu hào hứng hiến luôn cả hai biệt thự cho nhà nước. Kháng chiến bùng
nổ, cậu không ngại gian lao, xách khăn gói vào Khu Tư, tức Thanh Hóa
theo “Bác.”

Chiến tranh tạm ngừng năm 1954, nhà trí thức lúc ấy đã mỏi mệt vì
những điều tai nghe, mắt thấy về Đảng và “bác”, nhưng cổ đã vướng
tròng, khó bề thoát ra. Trở về Hà Nội, ông được cộng sản ấn vào tay
một lô chức tước “phó”, vô danh và… vô thực luôn: Phó chủ tịch Hội
Luật Gia Việt Nam, phó Trưởng khoa Đại Học Sư Phạm, thành viên Hội Hữu
Nghị Việt-Xô, v…v..

“Đó là các chức vụ hoàn toàn có tính cách lễ nghi, không hiệu năng mà
cũng chằng có thực quyền, đó là những chức vụ mà tôi chỉ là kẻ dư
thừa”.

Năm 1956, có phong trào Đòi tự do, dân chủ của các báo Nhân Văn, Giai
Phẩm. Báo Nhân Văn đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Tường. Ông vạch
trần tính chất phản dân hại nước của cộng sản:
“Đảng Viên đảng Lao Động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tính thần
dân chủ, xa lìa quần chúng, tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với
mình… ”
Dĩ nhiên, ông cũng còn tin cộng sản có thể sửa đổi được, và ông đề
nghị những biện pháp sửa đổi ! Ngày nay, đã có một tay cộng sản gộc,
chính tông, là Boris Yelsin bỏ đảng và tuyên bố “Cộng Sản không thể
sửa đổi ”

Nhiều ông trí thức của ta vẫn tin rằng có thể dùng kiến nghị, thư ngỏ…
để thay đổi chính sách của Cộng sản. Cộng sản dĩ nhiên không thèm đếm
xỉa gì đến những đề nghị của ông Tường; nhưng lãnh đạo Cộng sản lại
dương những con mắt cú vọ quan sát, nhằm “chiếu tướng” ông trí thức.
Ngày 30 tháng 10 năm 1956, ông luật sư, giáo sư, kiêm luôn bao nhiêu
chức Phó và Thành viên các hội, đọc một bài diễn văn tại cái gọi là
Mặt Trận Tổ Quốc, phân tích những khốc hại đẫm máu của việc Cải Cách
Ruộng Đất, và đề ra phương hướng để tránh mắc lại! Ông Trí thức lúc ấy
chắc vẫn tin là cộng sản mắc “sai lầm”, chứ không phải là chúng chủ
tâm và tỉ mỉ hoạch định đủ phương kế để giết người và cướp đất ruộng.
Sau bài diễn văn với những đề nghị này, nọ của ông, dây thừng quanh cổ
ông được cộng sản xiết chặt lại. Bao nhiêu chức tước vớ vẩn của ông
được gỡ sạch. Ông bị đưa ra đấu tố tại trường Đại Học cho học trò ông
xỉ vả, mắng mỏ; ông bị ra trước Mặt Trận Tổ Quốc để các “đồng chí” của
ông đấu đá. Ông bị các đảng viên đảng Xã Hội, một đảng bù nhìn do cộng
sản nặn ra để trang trí cho chế độ, đấu tố ông lần chót. Ông chống trả
rất can trường, với lập luận sắc bén của một luật sư có tài. Nhưng rồi
ông đau khổ nhận rằng:

“Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói”.

Số phận ông đã được Cộng đảng quyết định: Bỏ cho chết đói giữa một sa
mạc hận thù không lối thoát. Ông than thở

“Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958
đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng ! Chìm trong vùng cát của
sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra
tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay
và vị đắng của mật !”
Trong ba mươi năm dài ấy, nhà trí thức sống ra sao ? Ông kể lại:

“Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen xa hoa của những
người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn
trưa và tố́i. Khẩu phần cơm rau mỗi ngày một ít đi, và đến lúc mỗi
ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn. Vợ và con gái tôi ốm đi
trông thấy. Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì
ốm đói”.
Trong cơn khốn cùng như thế, gia đình ông Tiến sĩ “may mắn” có được
một con gà mái “mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên ”. Mỗi ngày con gà cho
một cái trứng, và mỗi người trong gia đình thay phiên nhau hưởng. Muốn
cho gà đẻ trứng, thì phải cho nó ăn. Khốn nỗi người còn sắp chết đói,
lấy đâu gạo, bắp cho gà ! Nhà trí thức ‘phát huy sáng kiến’:

“mỗi ngày, vào lúc hoàng hôn, khi chợ đã vắng người mua bán, tôi lượn
quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn, tránh không để người qua đường
nhìn thấy, mang về nuôi nó”
Thê thảm không còn gì để nói ! Nhưng con gà, dù mắn đẻ, tất cũng không
nuôi sống nổi cả gia đình của ông tiến sĩ. Ông phải đau khổ, năn nỉ
những kẻ có tiền để họ mua những thứ ông có thể vơ vét ở trong nhà:
sách vở, quần áo của ông, son phấn, tóc giả của bà, muỗng nĩa trong
bếp… Giống hệt tình cảnh của toàn dân miền Nam năm 1975 khi được CS
Hanoi “giải phóng.” Ba mươi năm vật lộn mỏi mòn, chỉ để khỏi chết đói
!

2. Trí thức DƯƠNG QUỲNH HOA

Bà Dương Quỳnh Hoa sinh trưởng trong tầng lớp thượng lưu của xã hội
Việt Nam. Bà theo học y khoa tại Saigon rồi sang Pháp năm 1948 học
tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953. Ăn phải bả Cộng sản, bà liên lạc với Cộng
sản Pháp, gia nhập Cộng đảng vào cuối thập niên 1950 và hoạt động cho
Cộng trong thời gian ở Pháp từ 1948 đến 1954. Sau 1954, bà về Saigon
nằm vùng và do thám cho Cộng. Năm 1960, được bọn Bắc cộng giựt dây,
bọn theo Cộng miền Nam thành lập Mặt Trận Giải Phóng. Bà Hoa là một
sáng lập viên của cái Mặt Trận này. Năm 1968, sau vụ đại bại của cộng
quân, mụ cùng chồng trốn ra bưng với Việt cộng, và được cho làm Bộ
Trưởng Y Tế. Trong thời gian ở trong bưng, đứa con trai nhỏ của mụ đã
chết vì bệnh sưng màng não. Chồng bà là Huỳnh Văn Nghị được Cộng dụ dỗ
cho nhập Đảng; nhưng ông Nghị nhận rõ bộ mặt thật của bọn giải phóng,
nên tìm cách khước từ “vinh dự” đó. Năm 1975, sau khi chiếm được Miền
Nam, bọn Bắc Cộng ra tay xóa sổ cái Mặt Trận Giải Phóng.

Những anh chị trót bán linh hồn cho quỷ trong Mặt Trận, như các anh
Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng… và bọn lủng lẳng đứng
giữa như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung… đều
vỡ mặt, tẽn tò như một lũ con nít bị lừa không được ăn kẹo ! Chính bà
Hoa sau này đã thú nhận việc đi theo Cộng là một ảo tưởng chính trị
trong đời bà.
Ngày 17 tháng 10 năm 1996, khi được tờ báo Far Eastern Economic Review
phỏng vấn:
Quel est l’évenement le plus marquant pendant les 50 années passées ?”

Bà trả lời:
“L’effondement du mur de Berlin qui a mis un terme à la “grande illusion”
dịch tạm: Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua ?

Bà DQH: “Đó là sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng lớn ”
Khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt nam, bà nói:
“Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến
những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị
kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đã hết”.
(I have been a communist all my life, but now I’ve seen the realities
of Communist, and it is a failure – mismanagement, corruption,
repression.
My ideals are gone”)

Cuối thập niên 1970, bà nói với Nguyễn Hữu Thọ:
“Tôi và anh chỉ là những kẻ bù nhìn, là những món đồ trang sức rẻ
tiền. Chúng ta không thể nào phục vụ một chế độ thiếu dân chủ và không
luật lệ.”
Khi được phỏng vấn về bọn lãnh đạo Việt cộng, bà lạnh lùng trả lời:

“Đó là những kẻ ngu si đần độn, bởi vì họ là cộng sản”.

Sunday, September 25, 2016

Việt nam sau năm 2020

NẾU TRỞ THÀNH MỘT KHU TỰ TRỊ CỦA TRUNG QUỐC, VIỆT NAM SẼ RA SAO?
(Trần Đình Sử - Giáo sư - Nhà Giáo Nhân Dân).
 
Trước hết tên nước bị xóa mất.
Dân Tàu tràn sang ta.
Chữ Hán là ngôn ngữ chính, tiếng Việt như tiếng Chuang bây giờ.
 
Người Việt sẽ bị di dời đi qua nhiều nơi hẻo lánh của Trung Quốc, bị phân tán triệt đễ để không còn tập trung, không có sức để khôi phục lại nước cũ.
 
Quân đội Việt Nam sẽ sang trấn thủ phía biên giới Ấn Độ, Pakistan, Duy Ngô nhĩ, đánh nhau, chết ở đó, còn quân Tứ Xuyên Quý Châu, Quảng Đông sang bảo
vệ các thành phố lớn Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, ...
 
Các nhân sĩ yêu nước bị đàn áp.
Các sách vở quý hiếm trong viện Hán Nôm sẽ bị thủ tiêu dần cho đến khi không còn dấu tích.
 
Lịch sử sẽ bị viết lại hoàn toàn. Các cuộc chiến tranh anh hùng của ông cha ta với các thống lĩnh như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi Quang
Trung..., bị viết thành các cuộc nổi loạn chống lại trung ương. Bọn Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hoàng Văn Hoan là những nhà yêu nước vĩ đại, đâu đâu cũng có tượng đài của chúng.
 
Có một bọn văn nô viết bài ca ngợi: Lạc Việt lại trở về trong lòng Bách Việt.. Bọn khác thì khảo chứng mối quan hệ thân thiết giữa vua Hùng với các hoàng đế Trung Hoa, rồi các mục trên báo "Chuyện bây giờ mới kể" nở rộ.
 
Dải đất hình chữ S vẫn còn mà giống người Việt, văn hóa Việt không còn nữa ...
Thật đau lòng!
 
Trần Đình Sử
Giáo sư - Nhà Giáo Nhân Dân.
      Chắc chắn điều đó sẽ xảy ra
      Đau cho dân Việt quá !!!!!

Wednesday, September 21, 2016

Trường Chinh đồng mưu với Hồ Chí Minh để Hán hóa Việt Nam

Những sự thật cần phải biết (phần 14) - Trường Chính - Kẻ vong bản

Đặng Chí Hùng (Danlambao) - Lịch sử và hiện tại đã chỉ ra rằng một đảng vô thần, vô tổ quốc và độc tài đã tạo ra những con người độc ác đến ghê sợ trong đó có Trường Chinh. Ngày hôm nay chúng ta phải trả lại sự thật của lịch sử để cho người dân thấy rằng họ đã bị đảng tập hợp bởi những kẻ độc ác, táng tận lương tâm lừa dối suốt 80 năm qua...
*
Trường Chinh (1907 - 1988) tên thật là Đặng Xuân Khu. Theo thông tin từ website của trường THCS Trường Chinh cho biết thông tin về Trường Chinh: “Là nhà chính khách cách mạng, nhà thơ, bút danh Sóng Hồng, biệt hiệu Trường Chinh (biệt hiệu này dùng như tên gọi). Ông sinh ngày 09/02/1907 tại làng Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Xuân Hồng, huyện Xuân Thủy, tỉnh Nam Định)... Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (1941) ông được cử làm Tổng bí thư Đảng, đồng thời làm chủ bút các báo Giải Phóng, Cờ Giải Phóng và Tạp Chí Cộng Sản... Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được cử vào nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, ủy viên Bộ Chính trị, Tổng bí thư, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đến năm 1981, ông là Chủ tịch Hội đồng Nhà Nước và Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Tháng 7/1987, ông được bầu làm Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam. Tháng 12 cùng năm, ông được đề cử làm cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.” (1)
Hồ Chí Minh và những đàn em cộng sản của mình. Từ trái qua: 
Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh. 
Trên thực tế Trường Chinh là đàn em của Hồ Chí Minh và là một trong những tội đồ của dân tộc Việt Nam. Xét trên khía cạnh tội ác thì tất cả các lãnh đạo cộng sản đều có tội với dân tộc, với đất nước. Tuy nhiên mỗi người có những tội lỗi đặc thù khác nhau. Ở con người của Trường Chinh trong bài viết này nổi bật lên tội lỗi đó là một kẻ Vong bản. Điều này thể hiện ở hai sự việc sẽ được trình bày dưới đây. 
I. Đồng mưu với Hồ Chí Minh để Hán hóa Việt Nam: 
Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã chủ trương bán nước và tiến hành Hán hóa Việt Nam, làm tay sai cho Trung cộng. Bạn đọc có thể tìm hiểu kỹ hơn ởNhững sự thật không thể chối bỏ” phần 2, 9, 10, 11, 12 trên Danlambao. Phục vụ đắc lực cho âm mưu Hán hóa Việt Nam đó chính là Trường Chinh. Để minh chứng cho sự kiện này chúng ta cùng tìm hiểu các chứng cứ sau đây. 
Tờ nhật báo “Tiếng Dội” số 462, năm thứ 3, 1951, Âm lịch 22 tháng Bảy năm Tân Mão, giá bán 1 đồng, của Chủ nhiệm Trần Chí Thành tự Trần Tấn Quốc, Tòa soạn, Quản lý 216 đường Gia Long Sài Gòn, có bài mang tựa đề “Việt Minh vận động cho Việt Nam làm chư hầu Trung Quốc”, cho in nguyên văn một tờ truyền đơn do Trường Chinh ký như sau: 
ỦY BAN HÀNH CHÍNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA 
NĂM THỨ VII 
TỔNG THƯ KÝ ĐẢNG LAO ĐỘNG VN 
SỐ: 284/LĐ ĐỘC LẬP TỰ DO HẠNH PHÚC 

Hỡi đồng bào thân mến! 

Tại sao lại nhận vào trong nước Việt Nam yêu mến của chúng ta, là một nước biết bao lâu làm chư hầu cho Trung quốc, cái thứ chữ kỳ quặc của bọn da trắng Tư Bản đem vào! 

Tại sao ta lại truyền bá trong dân chúng từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, cách viết chữ dị kỳ của tên thực dân Alexandre de Rhodes đã đem qua xứ mình như thế? 

Không, đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối Âu Tây ấy - một cách viết rõ ràng có mau thật đấy - và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc. 

Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta - mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế - có phải là dân tộc văn minh trước nhất hoàn cầu không? Còn nói gì đến y khoa của Âu Mỹ: Chúng chỉ cắt, đục, khoét, nạo! Có thế thôi! 

Hỡi đồng bào yêu mến! Chúng ta hãy gạt bỏ cách chữa bệnh của bọn Đế quốc phương Tây đem qua xứ ta! 

Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu!!! 

Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa học, phát minh v.v... 

Ta hãy quét sạch lũ “trí thức” đã xuất thân ở các trường Âu Mỹ, đế quốc và thực dân! 

Chúc “Tổng phản công” và “Thi hành mọi phương pháp bài trừ thực dân”. 

Trường Chinh 
Tổng thư ký đảng Lao Động 
Đây là một văn bản cho thấy đảng cộng sản chủ trương bán nước và Hán hóa dân tộc, kêu gọi làm chư hầu rõ rệt nhất cho Trung cộng. Việc này là một sự cho thấy rõ nét âm mưu Hán hóa của đảng cộng sản trong vô vàn hành động khác. Tuy nhiên sẽ có nhiều ý kiến cho rằng sự có mặt của sắc lệnh kêu gọi kia chỉ là một thứ bịa đặt nhằm bôi nhọ đảng cộng sản. Nhưng trong khuôn khổ bài viết này tôi đã có những bằng chứng khẳng định sự có mặt của văn bản do Trường Chinh ký là thật. 
Thứ nhất, số báo Tiếng Dội này nằm trong Thư Viện tiếng Việt thuộc Bảo Tàng Viện Anh Quốc (British Museum - London). Bạn đọc hoàn toàn có thể kiểm chứng. Chúng ta cũng phải nhìn nhận về tờ báo Tiếng Dội như sau. Các văn bản, bài báo được lưu trữ trong văn khố của các nhà nước có tiến bộ như Anh, Mỹ, Pháp... đều là những tác phẩm có giá trị về mặt nội dung cũng như sự thật lịch sử được nghiên cứu và chọn lọc kỹ lưỡng. Sự việc được lưu trữ trong văn khố của viện bảo tàng nước Anh cho thấy tính xác thực của bài báo nói trên trong tờ báo Tiếng Dội. Đó là bằng chứng đầu tiên cho thấy sự tồn tại sắc lệnh của ông Trường Chinh là có thật. 
Thứ hai, hiện nay tại Trung tâm lưu giữ quốc gia I, Việt Nam có một văn bản lưu giữ như nội dung bài báo Tiếng Dội cho đăng. Văn bản này được lưu giữ trong kho văn thư trước năm 1945 của đảng cộng sản Việt Nam. Văn bản tuy mất một phần dưới góc do yếu tố thời gian không thể thấy được chữ ký của ai nhưng trên đầu của sắc lệnh ghi rõ do đảng Lao động Việt Nam (tên khác của đảng cộng sản) ban hành. Việc không thấy chữ ký của ai không quan trọng lắm vì nó có ghi rõ là của đảng Lao động và được trung tâm lưu trữ quốc gia lưu trữ nên nó không thể vô giá trị. Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm tại trung tâm lưu trữ quốc gia I tại Hà Nội về sắc lệnh kêu gọi nói trên. 
Thứ ba, sẽ là thiếu sót nếu chỉ có 2 bằng chứng trên đây để khẳng định việc tồn tại sắc lệnh kêu gọi của ông Trường Chinh là sự thật. Thêm bằng chứng sau đây sẽ khẳng định chắc chắn về điều đó với bạn đọc. Vì đảng cộng sản hay có thói quen thủ tiêu bằng chứng về tội ác và sai lầm của mình nên thêm một nguồn tài liệu có thể khẳng định điều này. Trong cuốn sách của tác giả Hà Cẩn (Viện văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi nhà Xuất bản Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang có đoạn trang 126 nói về quan hệ với Việt Nam. Đoạn đó có đoạn tạm dịch như sau: 
“Mao chủ tịch đánh giá việc Việt Minh đã từng muốn dùng tiếng Trung Quốc thay cho chữ quốc ngữ Việt Nam là một hành động cho thấy trước sau gì Việt Nam sẽ thuộc về chúng ta, ít nhất là về văn hóa”. 
Từ đoạn này chúng ta có thể thấy Mao đã biết chủ trương dùng tiếng Hoa của Việt Minh (lúc đó mang tên đảng Lao động Việt Nam). Thời điểm tác giả Hà Cẩn nêu trong cuốn sách của mình là lúc Mao vẫn chỉ gọi đảng cộng sản Việt Nam là Việt Minh trùng khớp với thời điểm và cách dùng trong quy phạm của sắc lệnh kêu gọi của Trường Chính đòi nhân dân Việt Nam học tiếng Hoa. 
Thứ tư, để khẳng định thêm về con người của Trường Chinh và vai trò của Trường Chinh trong bức thư kêu gọi bỏ Việt theo Tàu thì một cuốn sách của tác giả đảng viên đảng cộng sản Pháp - D. Olivier cho biết: “Chính phủ của đảng Lao Động Việt Nam đã được chính quyển cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa hậu thuẫn rất nhiều. Đã có thời điểm tổng thư ký đảng Lao Động là ông Trường Chinh thay mặt đảng chủ trương cho người dân Việt nam học chữ Hán như là một thứ quốc ngữ...” (Trích trang 95 cuốn “Đông Dương và người Pháp” - xuất bản năm 1987). 
Trường Chinh đọc báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ VI của Đảng CS tháng 12-1986. 
Thứ năm, bản thân con người của Trường Chinh là một con người có tư tưởng thân Trung cộng và là người vâng lời Hồ Chí Minh gần như tuyệt đối. Trường Chinh là người tích cực nhất trong vụ cải cách ruộng đất mà Hồ học từ Trung cộng. Việc thực thi một cách chặt chẽ các chủ trương của Tàu và Hồ Chí Minh đã biến Trường Chinh thành một tên tội đồ trong CCRĐ. Điều này khác hẳn với tư tưởng của ông Duẩn trong việc quan hệ với Trung cộng. Rõ ràng ngay cả bản chất con người Trường Chinh cũng cho thấy ông ta yêu Trung cộng như lãnh tụ của ông ta. Để thấy rõ nét vai trò là đàn em của Hồ trong cải cách ruộng đất chúng ta có thể đọc lại “Những sự thật không thể chối bỏ” phần 5 và lưu ý: “Cấp trung ương: do tổng bí thư đảng Lao động là Trường Chinh - Đặng Xuân Khu làm chủ tịch, có ba người phụ tá là Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương (đều là ủy viên Bộ chính trị) và Hồ Viết Thắng (ủy viên Trung ương đảng). Hồ Viết Thắng giữ chức giám đốc, trực tiếp điều hành cuộc Cải cách theo mệnh lệnh của Trường Chinh. Hồ Viết Thắng đã từng đi học ở Trung cộng, được Trường Chinh giao nhiệm vụ mở "Trung tâm đào tạo cán bộ Cải cách Ruộng đất" tại chiến khu Cao Bắc Lạng.” 
Đấu tố CCRĐ 
Và đặc biệt trong vụ án của bà Cát Hanh Long thì Trường Chinh cũng cho thấy bản chất khát máu cũng như quỵ lụy Hồ Chí Minh như thế nào. Trong Hồi ký “Làm người rất khó, làm người xã hội chủ nghĩa khó hơn”, nguyên Phó thủ tướng CHXHCN Việt Nam, ông Đoàn Duy Thành cho biết việc bà Năm bị bắn đã làm xôn xao dư luận. Ông cho rằng việc làm này có 3 điều làm sai chính sách là: 

(1) Địa chủ kháng chiến được chiếu cố; 

(2) Địa chủ kiêm công thương được chiếu cố; 

(3) Địa chủ hiến ruộng được chiếu cố. Và một điều sai đạo lý là "...bắn một địa chủ là nữ, không phải là cường hào gian ác sẽ trái đạo lý thông thường của người Việt Nam". 
Ông Đoàn Duy Thành viết tiếp: "Sau này khi sửa sai CCRĐ xong, tôi được nghe nhiều cán bộ cao cấp nói lại: 'Khi chuẩn bị bắn Nguyễn Thị Năm, Bác Hồ đã can thiệp và nói đại ý: ‘ Chẳng lẽ CCRĐ không tìm được một tên địa chủ, cường hào gian ác là nam giới mà mở đầu đã phải bắn một phụ nữ địa chủ hay sao?’ Nhưng cán bộ thừa hành báo cáo là đã hỏi cố vấn Trường Chinh và được trả lời là: 'Hổ đực hay hổ cái, đều ăn thịt người cả!'. Và thế là cái chết đã đến với bà Năm. 
Bữa cơm tại Tỉn Keo ATK gồm Hồ Chí Minh, 
Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp tiễn Lê Đức Thọ 
vào Nam. Ảnh tư liệu trưng bày tại Bảo tàng ATK Định Hóa. 

Trường Chinh và Hồ Chí Minh 
Sắc lệnh kêu gọi của Trường Chinh thể hiện dã tâm biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung cộng của đảng cộng sản Việt Nam. Như vậy bản chất vong bản của Trường Chinh đã thể hiện rõ ở luận cứ này vì dám kêu gọi bỏ chữ viết dân tộc đi theo chữ của Trung cộng. 
II. Sát hại cha mẹ và thân nhân 
Bản chất vong bản của Trường Chinh còn thể hiện ở việc ông ta đấu tố để bức hại cha mẹ cũng như thân nhân của mình. Xin theo dõi một số dẫn chứng sau đây để thấy rõ điều này. 
Thứ nhất, Trường Chinh tên thật là Đặng Xuân Khu có liên hệ về gia tộc với Bác sĩ Đặng Vũ Lạc làng Hành Thiện, phủ Xuân Trường, Nam Định. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc là một vị bác sĩ kỳ cựu của Đông Dương, tốt nghiệp ở Pháp, đã điều hành dưỡng đường Henry Copin ở Hà Nội là nhà thương tư lớn nhất vào thuở ấy. Bác sĩ Đặng Vũ Lạc cũng là người đề xướng thành lập Hội Bác sĩ Đông Dương. Nhà thương Henry Copin ở phố Hàng Cỏ, Hà Nội là nơi tụ hội của hàng ngũ đảng viên Đại Việt. Người em ruột của Bác sĩ Đặng Vũ Lạc là Đặng Thị Khiêm, có chồng là Ông cả Nguyễn Tư Tề, nên thường được gọi là Bà cả Tề. Bà là Đảng viên điều hành Xứ bộ Bắc Việt của đảng. Khi Trường Chinh bị đuổi học về nhà đi lang thang, Bà Cả thương tình con cháu đem về chăm sóc và lo việc vợ con và thăm nuôi những lần Trường Chinh bị Pháp bắt giam ở Hỏa Lò. 
Tác giả Quang Minh trong quyển sử Đại Việt Quốc dân đảng đã viết rằng hệ phái bên Bác sĩ Đặng Vũ Lạc học hành và làm ăn phát đạt nên được dân trong làng Hành Thiện và cả phủ Xuân Trường vị nể, nhưng (trang 19 sđd): “Trái lại, Trường Chinh thì học hành không ra gì còn bị sa sút... cho nên có sự ganh tị ở địa phương đã lâu. Đến khi Cộng sản chiếm được chánh quyền, Trường Chinh ra lệnh thủ tiêu một lần bảy (07) người thanh niên trí thức của họ Đặng Vũ đã theo Đại Việt: 1- Đặng Vũ Căn, 2- Đặng Vũ Toại, 3- Đặng Vũ Lệ, 4- Đặng Vũ Kha, 5- Đặng Vũ Tân, 6- Đặng Vũ Định, 7- Đặng Vũ Úy.” 
Thứ hai, lúc khởi đầu chiến dịch CCRĐ năm 1952, chính Trường Chinh - Đặng Xuân Khu đã đấu tố cả cha mẹ của mình khiến ngoài dân gian có câu vè truyền tụng (trích bài của Ban biên tập Báo Nguyệt San Tự do Ngôn luận, số 40, ngày 1-12-2007): “Đấu tố phụ mẫu, tôn thờ Mác Lê, nhục ấy đời chê thằng họ Đặng. Hãm hại sĩ nông, đảo điên văn hóa, tội kia sách chép đứa tên Khu”. 
Khu ở đây chính là Đặng Xuân Khu - Trường Chinh!. 
Thứ ba, tác giả Minh Võ tên thật là Vũ Đức Minh, sinh năm 1931 tại Nam Định (đồng hương với Trường Chinh) và hiện đang sinh sống tại San Diego, California. Ông nguyên là Tổng thư ký Nguyệt san Tinh Thần, và cũng là dịch giả nhiều cuốn sách từ Anh và Pháp ngữ sang tiếng Việt về các vấn đề tôn giáo, chính trị, văn học, lịch sử, tâm lý giáo dục. Tác giả đã giữ nhiều trách nhiệm quan trọng trong ngành truyền thông trước 1975. Sau năm 1975, tác giả bị cộng sản giam tù 10 năm. Một số tác phẩm: Sách lược xâm lăng của cộng sản, Sài Gòn, 1963, Ngô Đình Diệm lời khen tiếng chê, Thông Vũ, 1968, 1998, 2002... Trong bài viết của ông có tựa đề “Con tố cha, vợ tố chồng” có đoạn viết: “Trong lịch sử dân tộc VN, chưa bao giờ đạo lý làm người bị đảo điên cách quái đản như trong thời kỳ CCRD. Con cái phải bịa chuyện gian dối đấu tố cha mẹ (mà Trường Chinh đã đấu tố cha ruột đến chết để làm gương).” (2
Thứ tư, trong cuốn sách “Quê hương niềm đau và nỗi nhớ của tác giả Huy Vũ (nguyên quán làng Bản Nguyên, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Theo gia đình di cư vào Nam 1955. Đậu Tú Tài I và II ban Toán năm 1957 và 1958. Là Thí nghiệm viên của Chương Trình Diệt Trừ Sốt Rét từ năm 1959 tới 1963. Đậu Cử Nhân Luật năm 1964). Trong chương 8 của cuốn sách có tên là - Chiến Dịch Đấu Tố Địa Chủ ở Làng Tôi có viết: “Đặc biệt họ cũng nêu ra một tấm gương sáng chói để tôi noi theo là ông Trường Chinh, tuy là con trai của một đại địa chủ, song vẫn được tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí Thư đảng Lao Động Việt Nam. Rất tiếc là chiến dịch PT/PĐQC/ĐTCĐC ở làng tôi đã xảy ra trước làng Hành Thiện của cụ thân sinh ra ông Trường Chinh Đặng Xuân Khu. Nếu sau, chắc chắn chúng còn cho tôi biết thêm ông Trường Chinh đã tố khổ bố ông ta như thế nào.” 
Và để kể về sự kiện Trường Chinh đấu tố cha mẹ cũng như một trường hợp tương tự ở ngoại thành Hà Nội thì nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã viết một bài thơ khá não lòng: 
“Được nghe bà kể khổ 
  Con thấy đời con thật đáng chết 
  Con đã đi bóc lột để nuôi bà 
  Con bây giờ không dám nhận là cha 
  Dù bà là do con đẻ ra 
  Con, thành phần địa chủ thối tha 
  Trước nhân dân, trước Đảng, trước bà  
  Xin thành khẩn cúi đầu chịu tội”. 

Cải cách và đấu tố 
Thứ năm, ngay cả những người giúp đỡ và nuôi giấu mình thì Trường Chinh cũng sẵn sàng giết hại không chút gớm tay. Trong cuộc Phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần (Nguyên Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội. Ông Nguyễn Minh Cần trong giai đoạn ấy là 1 cán bộ trung cấp. Ông từng là bí thư quận ủy ngoại thành Hà Nội trước khi ra công khai, trở thành phó chủ tịch ủy ban hành chính Hà Nội vào năm 1954. Ông thấu hiểu từng bước của cuộc cải cách ruộng đất và đã trực tiếp làm công tác sửa sai sau đó tại ngoại thành HN. Hiện ông Cần sinh sống tại Matxcơva) về sự chuẩn bị của đảng cộng sản và nhà nước VNDCCH trước khi bắt đầu cuộc Cải cách ruộng đất. Cuối giai đoạn chuẩn bị là thí điểm với vụ án bà Cát Thanh Long từng gây xôn xao dư luận một thời. Xin đọc đoạn phỏng vấn như sau: 
PV: Kính chào ông Nguyễn Minh Cần, ông có thể cho biết là ông HCM và đảng CS đã chuẩn bị cho cuộc cải cách ruộng đất như thế nào? 

Ông Nguyễn Minh Cần: Trong năm 1951 và 1952 ông HCM đã cùng với Thường vụ trung ương đảng, bây giờ ta gọi là Bộ chính trị, lúc bấy giờ gọi là Thường vụ trung ương đảng, họ chuẩn bị về mọi mặt. Chuẩn bị quan trọng đầu tiên là chuẩn bị về mặt tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên, quân đội thông suốt về tư tưởng. 

Vì vậy họ đã tiến hành chỉnh huấn và chỉnh quân. Trong này có một điều đáng chú ý nhất, tức là người ta nói rằng trước đây người ta coi địa chủ là một thành phần ở trong nhân dân, mà bây giờ không phải như vậy rồi. Bây giờ địa chủ không phải là nhân dân, nhân dân chỉ là nhân dân và địa chủ tức là những người chống lại nhân dân - kẻ địch của nhân dân. 

Điểm đó là điểm mà xoay chiều tư tưởng rất lớn ở trong cán bộ. Lúc bấy giờ cũng có nhiều cán bộ thắc mắc, đại thể tôi muốn nói một kinh nghiệm, khía cạnh như vậy để thấy rằng lúc đầu tư tưởng của cán bộ cũng không phải nhất trí trong vấn đề đánh địa chủ đâu, mà có những thắc mắc như vậy. Thế nhưng mà những cuộc chỉnh huấn có nhiệm vụ làm thế nào để dẹp hết tất cả những tư tưởng thắc mắc đó để tạo một sự nhất trí bắt buộc ở trong đảng, ở trong quân đội và ở trong các đoàn thể. Trong giới trí thức cũng có những cuộc chỉnh huấn. 

Vì vậy họ đã tiến hành chỉnh huấn và chỉnh quân. Trong này có một điều đáng chú ý nhất, tức là người ta nói rằng trước đây người ta coi địa chủ là một thành phần ở trong nhân dân, mà bây giờ không phải như vậy rồi. Bây giờ địa chủ không phải là nhân dân, nhân dân chỉ là nhân dân và địa chủ tức là những người chống lại nhân dân - kẻ địch của nhân dân. 

Việc thứ hai, chuẩn bị mặt tổ chức thì tôi muốn nói rõ thêm là về mặt tổ chức lúc bấy giờ theo sự phân công giữa Mao Trạch Động và ông HCM thì Stalin có nói rằng Trung Quốc ở gần Việt Nam và đã từng có kinh nghiệm cải cách ruộng đất rồi, thế thì Trung Quốc sẽ giúp cho Việt Nam làm việc đó. 

Vì vậy cho nên Việt Nam mời các cố vấn sang. Tổng cố vấn lúc bấy giờ là Lã Quý Ba, ông ta đồng thời là đại sứ của Bắc Kinh, đại sứ mà lại đồng thời là tổng cố vấn. Tổng cố vấn về quân đội là Vi Quốc Hân?, tổng vấn về cải cách ruộng đất là Triểu Hiểu Quang. Ông này là phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây, là tỉnh cũng đã làm cải cách ruộng đất. 

Như vậy là trùm lên trên về mặt tổ chức là hệ thống cố vấn. Đồng thời về mặt tổ chức thì thành lập cái gọi là Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương, dưới trung ương có các đoàn cải cách ruộng đất. Mỗi đoàn cải cách ruộng đất thì có một đoàn ủy lãnh đạo. Dưới các đoàn là các đội cải cách ruộng đất. 

PV: Xin ông nói rõ thêm về đội cải cách ruộng đất, là những người trực tiếp thực hiện và dân chúng còn mô tả là có quyền hành hơn cả Trời. Nhất đội nhì Trời kia mà. 

Ông Nguyễn Minh Cần: Mỗi đội cải cách ruộng đất, theo xã to hay nhỏ gồm khoảng 30 hoặc 40 người. Phần nhiều là những người ở các địa phương khác, tức là họ giữ một nguyên tắc là không để cho người địa phương nơi nào phải đi làm cải cách ruộng đất ở nơi ấy. Vì họ sợ như vậy sẽ tạo điều kiện bao che cho tổ chức cũ, bao che cho địa chủ quen biết v.v... Đấy là một nguyên tắc. 

Như vậy là cả một đạo quân để đi làm cải cách ruộng đất. Bây giờ để chuẩn bị một bước thứ ba nữa tức là chuẩn bị mặt chính sách. Năm 1952, Bộ chính trị tổ chức làm thí điểm cải cách ruộng đất ở 6 xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, là một tình căn cứ của Việt Minh thời kỳ bấy giờ. Trong lần thí nghiệm này có 1 sự kiện động trời: tòa án cải cách ruộng đất tử hình bà Nguyễn Thị Năm (còn gọi là Cát Thanh Long) 

PV: Thưa ông, vụ án này nổi tiếng lắm, ông vui lòng kể thêm 1 số chi tiết về vụ án này.

Ông Nguyễn Minh Cần: Bà là một người mà thời kỳ trước cách mạng đã từng che giấu, nuôi ăn, giúp đỡ các ông lớn nhất của đảng CS lúc bấy giờ là ông Trường Chinh, ông Hoàng Quốc Việt, ông Lê Đức Thọ, ông Phạm Văn Đồng, ông Lê Thanh Nghị ông Lê Giảng.

Còn trong thời kỳ "Tuần lễ vàng", là sau khi đã có chính phủ VNDCCH rồi thì gia đình bà đã dâng nộp 100 lạng vàng cho chính quyền mới. Bà lại hoạt động trong hội phụ nữ, lại có con trai làm trung đoàn trưởng. Thế mà bà lại bị quy là địa chủ, cường hào gian ác và bị đoàn cải cách ruộng đất xử án tử hình 

Ủy ban cải cách ruộng đất trung ương do Trường Chinh cầm đầu đã duyệt và thường vụ trung ương, tức là bộ chính trị cũng đã chuẩn y và tất nhiên cả ông HCM lúc bấy giờ cũng biết sự kiện đó chớ không phải không. Nhưng họ lại lạnh lùng chuẩn y một án tử hình như vậy. 

Phát súng đầu tiên của cải cách ruộng đất nổ vào đầu một người phụ nữ yêu nước, đã từng giúp đỡ cho những người CS! Phát súng đó đã nói rằng nó nói lên nhiều về tâm địa của những lãnh tụ CS, nó báo hiệu trước 1 tai họa khôn lường cho toàn dân ở miền Bắc lúc bấy giờ. 

PV: Xin được hỏi thêm ông về vụ xử tử bà Cát Thanh Long. Về sau mỗi khi tòa án tuyên án tử hình thì án được thi hành liền. Thế tại sao án tử hình của bà Cát Thanh Long lại còn phải đưa lên trên để xin ý kiến? 

Ông Nguyễn Minh Cần: Vì đây là thí điểm đầu tiên, vừa làm vừa rút kinh nghiệm cho nên có sự thận trọng. Về sau này thì lại khác, tức là quyết định của tòa án là bắn luôn.

Từ ngày mùng 1 đến ngày mùng 4/12/1953 thì kỳ họp thứ 3 của quốc hội khóa I, tại đó chủ tịch HCM đọc báo cáo "tình hình trước mắt và nhiệm vụ cải cách ruộng đất". Đến ngày 4/12 thì quốc hội nhất trí thông qua luật cải cách ruộng đất và chủ tịch HCM đã ký sắc lệnh ban hành luật. Từ đó bắt đầu các đợt cải cách ruộng đất 

Lúc đầu, mỗi đợt cải cách ruộng đất thì ở một vùng, số lượng xã ít hơn, nhưng dần dần thì mở rộng ra. Đến năm 1956, tức là đợt 5 là đợt cuối cùng, diễn ra ở hầu hết các đồng bằng Bắc bộ và các vùng trước đây Pháp chiếm (3)
Bà Cát Hanh Long - Nguyễn Thị Năm và các con 
Qua đoạn phỏng vấn ông Nguyễn Minh Cần cho thấy lúc đó quyền sinh sát nằm trong tay Hồ Chí Minh và Trường Chinh nhưng họ lại ra tay giết hại chính những người cưu mang mình. Đó là một điều vong bản và bất nhân. 
III. Kết luận: 
Con người có hai điều chính yếu để kết luận tội vong bản đó là phản bội dân tộc, tổ quốc và phản bội, giết hại cha mẹ và người thân. Chính vì tham quyền lực mà Trường Chinh đã thực hiện cả hai điều này. Và như vậy thì Trường Chinh đích thực là kẻ vong bản không hơn không kém. 
Lịch sử và hiện tại đã chỉ ra rằng một đảng vô thần, vô tổ quốc và độc tài đã tạo ra những con người độc ác đến ghê sợ trong đó có Trường Chinh. Ngày hôm nay chúng ta phải trả lại sự thật của lịch sử để cho người dân thấy rằng họ đã bị đảng tập hợp bởi những kẻ độc ác, táng tận lương tâm lừa dối suốt 80 năm qua. Đó chính là lẽ phải mà chúng ta cần phải thực hiện. 
6/8/2013
____________________________________

Hồ Chí Minh bôi bác tôn giáo


Đối với Phật giáo:
“Có đức mà không có tài như ông Bụt (Phật), thì không có hại gì cho xã hội, nhưng cũng chẳng có ích lợi gì cho xã hội”.

Đối với công giáo:
“Nếu chúa còn sống đến bây giờ thì chúa cũng làm cộng sản”.

Vào Google.com, gõ một trong hai câu trên, sẽ tìm thấy link sau đây:
http://www.geocities.ws/xoathantuong/dch/dch_nhungsuthat11.htm

Monday, August 29, 2016

Một con hồ (chồn) đỏ

MỘT CON HỒ ĐỎ

Email In

MỘT CON HỒ ĐỎ
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đặt niềm tin vào Thiên Cơ. Đa số đạo hữu Cao Đài là người trí thức như Kỹ sư kiêm Bác sĩ Nguyễn Ngọc Bích, Giáo sư Nguyễn Hữu Lương, Giáo sư Nguyễn văn Sâm v.v...Victor Hugo (1802-1885), đại văn thi hào của Pháp và thế giới, cũng có niềm tin nầy. Vì vậy, Victor Hugo là một trong số vĩ nhân trên thế giới được Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ thờ phượng.
Thiên Cơ đã dạy bảo Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc (1890-1959) thiết kế xây dựng Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, một công trình kiến trúc to đẹp tại miền Nam Việt Nam, mặc dầu Ngài không phải là một kiến trúc sư và chỉ có bằng Thành Chung (Diplôme d’Études Primaires Supérieures Indochinoises).
Một lời tiên tri
Do Thiên cơ giáng chỉ, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ở Tây Ninh đã cảnh giác về một con hồ đỏ xuất hiện để gây ra một đại họa cho dân tộc Việt Nam. Mùa hè năm 1941, tại một khu rừng nằm trong địa phận Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc báo động: “ Ngày nay có một con hồ đỏ, nhân dân Việt Nam không trử khử nó, ngày mai nó sẽ nhuộm đỏ đất nước mình
Lời tiên tri của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã ứng hiện ngay từ năm 1941.
Con hồ gọi nôm na là con chồn, một loài thú rừng rất gian xảo. Theo truyền thuyết của Đông phương, cữu vỹ hồ ly tinh là chúa tể của loài chồn có khả năng hóa thành người đẹp để gây hại cho những người chất phát dễ nghe theo lời đường mật của nó. Truyền thuyết mơ hồ nầy lại trờ thành một hiện thực đau đớn cho đất nước Việt Nam trong thế kỷ 20. Đúng như lời tiên tri của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, một con hồ ly tinh gian ngoan quỷ quyệt từ phương Bắc đến đã gieo mầm trái đắng để bức hại dân tộc Lạc Việt sống trên ba miền Nam, Trung, Bắc Việt Nam phải ngậm đắng, nuốt cay, hứng chịu biết bao tang tóc và đau khổ từ năm 1941 đến ngày nay. Trái đắng đó chính là đảng Cộng Sản Đông Dương, tiền thân của đảng Cộng Sản Việt Nam. Thật vậy, đảng nầy đã được thành lập tại Hong Kong  ngày 3-2-1930 với sự tham gia của 7,8 đại biểu, trong đó có Nguyễn Tất Thành, bí danh Nguyễn Ái Quốc, và Hồ Tập Chương, bí danh Hồ Quang, cả hai đều là cán bộ cộng sản quốc tế, thành viên Ban Trù bị thành lập đảng. Một năm sau ngày ra đời bên Tàu theo chỉ thị của Josef Stalin, Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Liên Xô, đảng Cộng Sản Đông Dương đã phát động một cuộc nổi dậy giết người rùng rợn tại Nghệ An và Hà Tỉnh gọi là Xô Viết Nghệ Tỉnh với chủ trương tàn bạọ :“Trí, Phú, Địa, Hào: đào tận gốc, trốc tận rễ” Từ sau thất bại “Xô Viết Nghệ Tỉnh” đến cuối thập niên 1930, đảng Cộng Sản Đông Dương đã hoàn toàn thúc thủ và phải tạm ngưng hoạt động. Nhưng kể từ năm 1940, đảng Cộng Sản Đông Dương được chỉ thị tái hoạt động, nổi loạn giết người tại Nam kỳ năm 1941. Nhưng cuộc nổi dậy đẵm máu gọi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa tại một vài tỉnh miền Đông Nam kỳ đã bị nhà cầm quyền Pháp biết trước và nhanh chóng dẹp tan. Năm 1940, đảng Cộng Sản Trung Quốc đã bí mật đưa một trong bốn điệp viên xuất sắc tên Hồ Quang, từ Quảng Tây đến hang Pác Bó để lãnh đạo đảng Cộng Sản Đông Dương. Địa danh hiểm trở nầy nằm trong tỉnh Cao Bằng giáp ranh Khu Tự Trị của dân tộc Choang trong tỉnh Quảng Tây. Căn cứ địa Pác Bó đặt dưới sự bảo vệ cẩn mật của cán binh cộng sản Tàu võ trang đầy đủ và một số thổ dân Tày do Chu văn Tấn chỉ huy. Một số người làm nghề rừng rủi ro đi lạc vào căn cứ Pác Bó đã bị giết chết thẳng tay trong những năm đầu của thập niên 1940 để bảo toàn bí mật. Nhờ có công bảo vệ Hồ Quang tại căn cứ địa Pác Bó, Chu văn Tấn đã được cho làm Bộ trưởng bộ Quốc Phòng đầu tiên sau khi một vài cán bộ cộng sản cướp được chánh quyền một cách dễ dàng ngày 19-8-1945 từ Nội các Trần Trọng Kim do Hoàng đế Bảo Đại bổ nhiệm.
Năm 1941, nhân vật thần bí Hồ Quang thành lập tại Quảng Tây Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh) để làm một công cụ gieo trồng trái đắng khắp nước Việt Nam. Từ Pác Bó, Hồ Quang thường len lỏi qua lại biên giới Hoa-Việt để đi về Quảng Tây công tác cho Sở Tình Báo Hoa Nam và nhận chỉ thị của Chủ Tịch đảng Cộng Sản Trung Quốc Mao Trạch Đông. Cán bộ Đệ tam Quốc tế Cộng sản và đảng viên đảng Cộng Sản Trung Quốc, Hồ Quang lại cộng tác với OSS (Office of Strategic Service) của Hoa Kỳ dưới bí danh Lucius và tình nguyện phục vụ dưới trướng của tướng Trung Hoa Quốc Dân đảng Trương Phát Khuê sau khi vị tướng quân nầy bắt giữ y tại Liểu Châu năm 1942 vì tình nghi là gián điệp cộng sản. Trở về Pác Bó năm 1943 với tên mới Hồ Chí Minh, Hồ Quang (Quang đồng nghĩa với Minh), một gián điệp dân tộc Hẹ (Khách Gia) sanh năm 1901 tại Đài Loan, chuẩn bị thành lập một chánh quyền cộng sản thân Tàu theo kế sách của Mao Trạch Đông. Tháng 8 năm 1945, Hồ Quang và đảng Cộng Sản Đông Dương đã hoàn thành kế hoạch của Cộng Sản Trung Hoa: cướp chánh quyền trong toàn quốc và thành lập một ngụy quyền dưới quyền chi phối của đảng Cộng Sản Đông Dương trá hình dưới danh nghĩa Mặt Trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh). Đột nhiên từ trong bóng tối nhảy ra chiếm giữ ngôi vị Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mặc dầu không được ai bầu cử, Hồ Chí Minh đã trở thành Cụ Hồ, Bác Hồ, “Cha Già dân tộc Việt Nam” lúc mới 44 tuổi. Sau khi cướp đoạt chánh quyền chánh thống của nhà Nguyễn năm 1945, Hồ Quang trở thành nguyên thủ quốc gia kiêm Chủ tịch đảng Cộng sản Việt Nam nhưng đồng bào trong nước không biết ông ta là ai và có công trạng gì đối với đất nước và dân tộc Việt Nam. Vài năm sau, Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam cố gắng làm sống lại một người Việt đã qua đời từ năm 1932 trong vai trò lãnh tụ cộng sản của nước Việt Nam trong thời kỳ cách mạng vô sản. Nhân vật đó là Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quốc), một cán bộ cấp thừa hành của Đệ tam Cộng sản Quốc tế từ năm 1924. Vì sống nghèo khổ tại thủ đô giá lạnh của nước Pháp từ 1917 đến 1923, Nguyễn Tất Thành mắc bịnh lao phổi trầm trọng và đã qua đời tại Hong Kong năm 1932 vì trong thập niên 1930 chưa có thuốc trụ sinh Streptomycin để chữa bịnh lao phổi. Trong một Báo cáo gởi Cộng sản Quốc tế, Hà Huy Tập, Tổng Bí thơ thứ ba của đảng Cộng sản Việt Nam, xác nhận Nguyễn Tất Thành đã bị “ám sát” năm 1932 trong nhà tù của thực dân Anh tại Hong Kong. Báo chí Hong Kong cũng đăng tin Tống văn Sơ tức Nguyễn Tất Thành đã qua đời.
Hồ Chí Minh là người Tàu hay người Việt?
Hồ Chí Minh là một người có trên 200 tên đã phục vụ Liên Xô, Trung Cộng, Hoa Kỳ, Trung Hoa Quốc Dân Đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Hoa Nam trước khi đến nước Việt thi hành một sứ mạng bí mật theo sự bố trí của Chủ tịch đảng Cộng Sản Trung Quốc Mao Trạch Đông. Ngày 2-9-1945, lần đầu tiên Hồ Chí Minh công khai xuất hiện trước công chúng tại Ba Đình, Hà Nội, đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập (lần thứ 2 sau Tuyên Ngôn Độc Lập ngày 11-3-1945 của Hoàng đế Bảo Đại), đồng bào không biết ông ta là người Việt hay người Tàu. Nhưng lúc bấy giờ có một người Hẹ bán thịt heo ở chợ Hà Nội đã nhận diện qua giọng nói tiếng Việt ông ta là một người Tàu, dân tộc Hẹ (Khách Gia, Hakka). Ngoài ông Cắc Chú nầy, một số ít người sống và hoạt động lâu năm bên Trung Hoa trong Quân đội cộng sản Tàu như Thiếu tướng Nguyễn Sơn cũng biết rõ chính đảng Cộng Sản Trung Quốc thông qua Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam đã bí mật đứng trong bóng tối yểm trợ, đánh bóng và thần tượng hóa Hồ Chí Minh trở thành một siêu sao trên vòm trời Việt Nam. Vì vậy, Hồ Chí Minh không thích Thiếu tướng Nguyễn Sơn và giao trả ông ta về Trung Quốc. Năm 1947, hai năm sau ngày Hồ Chí Minh xuất hiện tại Hà Nội, nhà văn học nổi tiếng của Đải Loan Ngô Trọc Lưu viết một quyển sách tựa đề “Hồ Chí Minh” bằng tiếng Nhựt tiết lộ Hồ Chí Minh tên thật là Hồ Tập Chương, người Tàu dân tộc Hẹ (Khách Gia), một người bạn của ông ta.
Sau khi Hồ Chí Minh đi xuống tuyền đài ngày 2-9-1969, có năm nguồn tin đã được công bố với một kết luận giống nhau:
1- Theo giáo sư sử học Hồ Tuấn Hùng ở Đài Loan, Hồ Chí Minh tên thật là Hồ Tập Chương, người dân tộc Hẹ, sinh năm 1901 tại Đài Loan trong cùng một gia tộc với tác giả quyển  Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo, xuất bản tại Đài Bắc vào tháng 11 năm 2008. Tác giả Hồ Tuấn Hùng xác nhận theo các tài liệu trong văn khố của nhà cầm quyền Anh ở Hong Kong, Tống văn Sơ (bí danh của Nguyễn Tất Thành lúc hoạt động tại Hong Kong) sau khi bị Cảnh Sát Hong Kong bắt giữ năm 1931 đã được chữa trị bệnh lao phổi trầm trọng trong một bệnh viện bài lao và đã chết năm 1932. Nguyễn Tất Thành đã mắc bệnh lao phổi lúc ở Paris (1917-1923). Về mặt y học, bệnh lao phổi vào thập niên 1930 không chữa trị được vì phương Tây chưa phát minh thuốc trụ sinh Streptomycin. Mãi đến ngày 19-10-1943, Sinh viên Cao học Albert Schatz, thành viên một nhóm nghiên cứu y học của Hoa Kỳ dưới quyền điều khiển của Bác sĩ Selman Abraham Waksman, mới khám phá ra thuốc Streptomycin. Đến năm 1946, thuốc Steptomycin mới được đem ra thí nghiệm trên lâm sàng để chữa trị bệnh lao phổi.
2- Căn cứ một bài viết của Huỳnh Tâm tựa đề Đảng Cộng Sản Việt Nam, Phiên Bản Của Tình Báo Trung Quốc đăng trên Blog danlambaovn, một số tài liệu của Tình Báo Trung Quốc hiện còn lưu tr
ữử tại hai cơ quan Tình Báo ở Hoa Nam và Bắc kinh đã được giải mã. Các tài liệu đã giải mã, đặc biệt là Sổ Tay của Đặng Bình Ánh (ĐBA), xác nhận nhân vật đã được đảng Cộng Sản Trung Quốc gởi đến căn cứ Pác Bó năm 1940 là Hồ Tập Chương mang bí danh Hồ Chí Minh từ năm 1932. Hồ Tập Chương là một điệp viên của Trung Cộng có năng khiếu về tình báo và biết nói nhiều thứ tiếng: Hẹ, Quảng Đông, Quan Thoại, Nhựt, Nga, Pháp và Việt. Tuy nhiên, Hồ Tập Chương viết và nói tiếng Việt và tiếng Pháp còn nhiều sai lầm vì mới học. Tiếng Hẹ có thanh âm gần giống tiếng Việt và tiếng Quảng Đông. Nếu so sánh ch
ữử viết trên lá đơn đề ngày 11-9-1911 của Nguyễn Tất Thành xin nhập học trường Thuộc Địa của Pháp với chữ viết của Hồ Chí Minh trên nhiều văn bản, nhứt là bản Di chúc của ông ta, mọi người đều nhận thấy có một sự khác biệt nổi bật. Viết tiếng Việt không rành, Hồ Chí Minh cầm bút sắt hay bút bi như viết chữ Hán (cầm bút lông).
Tác giả Huỳnh Tâm còn phát hiện một tài liệu hiện còn lưu trữ tại Học Viện Quân Sự Tình Báo Bắc kinh ghi rõ như  sau: “ Hồ Tập Chương thay mặt đảng Cộng Sản Đông Dương tham dự Quốc khánh của Trung Quốc ngày 1-10-1950 đã tuyên bố như sau:
“ Từ ngày có đảng ta khai hóa được nhược tiểu chư hầu Việt Nam đến với trào lưu nghĩa vụ Cộng sản Quốc tế, nay kính dâng lên Đảng tùy nghi sử dụng cơ sở Cộng Sản Đông Dương. Mao Chủ tịch muôn năm”.
3- Năm 2014, Trung Quốc chánh thức xác định Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Thiếu tá Hồ Quang của Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc đã phục vụ trong Bát lộ quân. Địa bàn hoạt động của Hồ Quang là tỉnh Quảng Tây.
4- Năm 2015, Cục Văn Thư và Lưu Trử của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng xác nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là Thiếu tá Hồ Quang của Quân đội Trung Cộng.
5- Trong một bài viết tháng 1 năm 1949 tựa đề “Đảng ta”dưới bút danh Trần Thắng Lợi, Hồ Chí Minh đã viết như sau: “Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng. Trong số 7,8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi (tức Hồ Chí Minh), nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và Trịnh Đình Cữu, đồng chí Tán Anh (Lê Tán Anh) và vài đồng chí nữa đã oanh liệt hy sinh cho đảng và cho dân tộc lâu trước Cách mạng tháng 8”. (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, trang 547, Nhà xuất bản Chánh trị Quốc gia, 2000).
Năm nguồn tin kể trên có cơ sở đúng đắn và khả tín:
- Giáo sư sử học Hồ Tuấn Hùng ở Đài Bắc là một người trí thức trẻ trung thực trong công tác khảo cứu sâu rộng và không có ân oán gì với các bên lâm chiến trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1945 đến 1975. Giáo sư Hồ Tuấn Hùng còn là cháu của Hộ Tập Chương và Hồ Tập Dưỡng (em của Hồ Tập Chương)
- Các tài liệu của Tình báo Trung Quốc đều được mã hóa để bảo mật nội dung. Sự chính xác của các tài liệu nầy có thể tin tưởng được.
- Hai bản Công bố của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là văn bản chánh thức của Nhà nước.
- Hồ Chí Minh toàn tập là một văn kiện chánh thức của đảng Cộng sản VN
Ngoài năm nguồn tin vừa kể, chúng ta cần lưu ý đến mặt tình cảm của con người Việt Nam đối với thân nhân sau một thời gian xa cách lâu dài. Nếu Hồ Chí Minh thật sự là Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Sinh Cung, con của Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, thì ông ta không thể từ chối tiếp một lần người chị ruột Nguyễn thị Thanh tức Bạch Liên đã lặn lội từ Nghệ An ra Hà Nội thăm em sau khi cách biệt từ 1910 đến 1945; ông ta cũng không buồn đến dự đám tang của người anh cả Nguyễn Sinh Khiêm tức ông Cả Khiêm và bà chi Nguyễn thị Thanh khi hai người thân nầy qua đời. Hồ Chí Minh chỉ về Nghệ An sau khi ông anh cả Nguyễn Sinh Khiêm và bà chị Nguyễn thị Thanh không còn ở trên thế gian nầy để khỏi bị lộ diện thân phận giả trá.
Căn cứ năm nguồn tin kể trên và một số thông tin chính xác khác, tôi khẳng định Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Tất Thành, một người Việt, mà là Hồ Quang, bí danh của Hồ Tập Chương, một người Tàu gốc Hẹ.
Nguồn gốc của người lãnh tụ tối cao đảng Cộng sản Việt Nam
Theo nhà văn Bình Nguyên Lộc (Tô văn Tuấn) trong tác phẩm đắc ý “Nguồn gốc Mã Lai của người Việt Nam”, Sài Gòn, 1971, tổ tiên người Hẹ đã định cư trên đất Thục (Tứ Xuyên ngày nay). Sau khi nhà Hán đánh chiếm đất Thục, giết vua Thục, dân tộc Hẹ di cư đến sinh sống đông nhứt tại Quảng Châu (bao gồm Quảng Đông và Quảng Tây) và Phước Kiến. Dân tộc Hẹ đã sản sinh ra một số đại nhân vật như Tôn Dật Tiên (Trung Hoa), Lý Quang Diệu (Singapore), Đặng Tiểu Bình (Trung Quốc), Lý Đăng Huy (Đài Loan). Khi nước Tàu có biến loạn, nhiều người Hẹ ở Quảng Đông, Quảng Tây và Phước Kiến  đã di tản qua Việt Nam làm ăn sinh sống tại các tỉnh thành miền Nam cũng như tại những vùng giáp giới hai nước Việt-Hoa như thành phố Móng Cái tiếp giáp với tỉnh Quảng Tây. Vì vây, khi đi kinh lý Móng Cái lần đầu tiên năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thích thú có dịp gặp nhiều cư dân gốc Hẹ và nói tiếng Hẹ với họ một cách lưu loát. (Xem Trần Đĩnh, Đèn Cù I và II ). Dưới thời Pháp thuộc, làn sóng di dân của người Tàu qua Việt Nam đã được dành cho nhiều dễ dàng để bù trừ lại việc nước Pháp hất ảnh hưởng của nước Tàu ra khỏi Việt Nam.
Ngoài khả năng nói tiếng Hẹ lưu loát, còn có một số thông tin đúng đắn khả dĩ chứng minh Hồ Chí Minh là người Tàu gốc Hẹ:
- Thiếu tá Hồ Quang của Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc đã hoạt động tại Quảng Đông và Quảng Tây để thường có dịp tiếp xúc với người dân tộc Hẹ lập nghiệp tại hai địa phương nầy. Từ miền Bắc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường qua lại tỉnh Quảng Tây. Ông ta cũng đã chọn thành lập trường đào tạo Thiếu niên Việt Nam tại Lư Sơn trong tỉnh nầy.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh tự nhận là tác giả của tập thơ Lao Trung Nhật Ký: 134 bài thơ trong tập thơ nầy đã được viết bằng Hán văn trác tuyệt với nhiều thành ngữ đặc biệt của dân tộc Hẹ. Nguyễn Tất Thành chỉ có trình độ Hán văn sơ cấp, chỉ nói được tiếng Quảng Đông, không nói được tiếng Hẹ và tiếng Quan thoại, không thể làm thơ bằng tiếng Hán và cũng không thể thông thạo các thành ngữ đặc thù của dân tộc Hẹ.
- Trong Tuyên Ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh sử dụng cụm từ “Lâm thời Chánh phủ”. Đó là lối nói và viết của người Tàu, đặt tính từ (adjective) trước danh từ (noun) cũng như người Anh và Mỹ.
- Trước khi hồn phách bay về cố quốc, Hồ Chí Minh muốn nghe một bản nhạc Tàu do một cô xẩm hát tại Hà Nội.
- Nhớ lại mối tình với Lâm Y Lan tại Quảng Châu và Hạ Môn, Hồ Chí Minh đã lấy lá cờ đỏ sao vàng của tỉnh Phước Kiến làm cờ đảng Cộng sản Việt Nam và muốn rước Lâm Y Lan qua Hà Nội chung sống với ông ta.
- Quyển sách “Những Mẫu Chuyện Về Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch” do Trần Dân Tiên (tức Hồ Chí Minh) viết bằng chữ Hán, xuất bản tại Thượng Hải năm 1949, dịch ra tiếng Pháp tại Paris năm 1950 rồi dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt năm 1951. Nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Tất Thành tức Nguyễn Ái Quốc, tại sao một người Việt không viết quyển sách nầy bằng tiếng Việt mà phải dùng chữ Hán ? Vã lại, với trình độ thấp kém về Hán văn, Nguyễn Tất Thành không có khả năng viết sách bằng tiếng Hán.
Tội ác của Hồ Chí Minh đối với đất nước và dân tộc Việt Nam
1-Gây ra hai cuộc chiến tranh nồi da xáo thịt trong 30 năm (1945-1975)
Nhằm mục đích thực hiện giấc mộng bành trường của Trung Quốc xuống Việt Nam và Đông Nam Á, Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ nghĩa cộng sản và lợi dụng lòng yêu nước của dân tộc Việt để phát động hai cuộc nội chiến giữa người Việt anh em nhưng khác biệt ý thức hệ. Áp dụng triệt để các giáo điều của chủ nghĩa Mác-Lê, đảng Cộng Sản Việt Nam dưới quyền lãnh đạo của Hồ Chí Minh đã tận dụng bạo lực để chiếm đoạt chánh quyền trong cả nước Việt Nam với các chánh sách, chủ trương và hành động tàn độc dã man chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam dưới thời quân chủ và Pháp thuộc. Hai cuộc nội chiến giữa người Việt quốc gia và người Việt cộng sản đã giết hại cả chục triệu mạng người, gieo tang tóc và đau khổ cho tất cả gia đình đồng bào trên cả ba miền Nam, Trung, Bắc, tàn phá nặng nề đất nước Viêt Nam vừa thu hồi độc lập với bản Tuyên Ngôn Độc Lập đầu tiên ngày 11-3-1945 của Hoàng đế Bảo Đại. Ba mươi năm chiến tranh tàn khốc đã làm suy yếu nội lực của  nước Việt, gây ra hận thù giai cấp, chia rẽ dân tộc, dần dần tạo ra tinh thần nô lệ ngoại bang, xem nhẹ Tổ quốc.
Nhờ viện trợ quân sự hùng hậu của Trung Cộng, đảng Cộng Sản Việt Nam đã chiếm được miền Bắc sau khi ký kết Hiệp định Geneve năm 1954 phân chia nước Việt Nam ra hai miền Nam Bắc. Người giúp bộ đội Việt Minh chiến thắng quân Pháp tại Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954 là Thượng tướng Trưởng Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Quốc Vi Quốc Thanh, một người dân tộc Choang ở Quảng Tây có quan hệ mật thiết từ trước với Thiếu tá Hồ Quang tại tỉnh nầy. Theo đuổi ý đồ dùng chiến tranh để giết chết dân tộc Việt, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng phát động cuộc Chiến tranh Việt Nam lần thứ hai (1954-1975) gọi là “Chiến tranh chống Mỹ cứu nước”. Sử dụng chiêu bài giả dối thống nhất đất nước, người “Cha Già dân tộc Việt Nam” gốc Tàu đã thúc đẩy dân tộc Lạc Việt phải  tiếp tục bắn giết nhau như kẻ thù không đội trời chung. Cuối cùng, đảng Cộng Sản Việt Nam do Thiếu tá Tàu Hồ Quang rèn luyện và dạy bảo đã nhượm đỏ cả nước Việt Nam nhờ sự thay đổi chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ từ năm 1972.
Triệt để thi hành kế sách thâm độc của Trung Quốc, Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản đã liên tục tiến hành hai cuộc chiến tranh trong 30 năm để tiêu diệt dân tộc Việt Nam, hết đánh Pháp rối lại đánh Mỹ đến người Việt cuối cùng đúng y như lời tuyên bố của Tổng Bí thư Lê Duẫn:
“ Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc, cho Liên Xô và cho các nước xã hội chủ nghĩa”
2-Tiêu diệt lãnh tụ các chánh đảng quốc gia, giáo chủ các tôn giáo và nhân sĩ, trí thức
Với tinh thần độc tôn và độc ác, Hồ Chí Minh không dung tha các tổ chức chánh trị và cá nhân có uy tín và khả năng tranh đoạt chánh quyền với đảng Cộng sản. Ngoài các chánh đảng và nhân vật quốc gia, Hồ Chí Minh cũng lên án tôn giáo là một loại thuốc phiện ru ngủ quần chúng. Vì vậy, sau khi cướp được chánh quyền của nhà Nguyễn và Nội các Trần Trọng Kim, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị Bộ trưởng Nội Vụ Võ Nguyên Giáp, một bộ hạ tâm phúc đắc lực của ông ta, ban hành quyết định đặt Việt Nam Quốc Dân Đảng ngoài vòng pháp luật và ra tay trừ khử lãnh tụ và cán bộ của các chánh đảng quốc gia (Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Duy Dân, đảng Lập Hiến, đảng Quốc Gia Độc Lập, đảng Dân Xã), đảng viên Đệ tứ Quốc tế Cộng sản, Giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo. Tuân lịnh Võ Nguyên Giáp, cán bộ Việt Minh cộng sản trong toàn quốc đã tàn sát một số lớn nhân sĩ, trí thức và tinh hoa của dân tộc Việt Nam.
3-“Rèn cán, Chỉnh quân”
Nhằm mục đích Hán hóa dần dần các sĩ quan và cán bộ Việt Minh, Hồ Chí Minh đã phối hợp với các Cố vần Tàu thực hiện kế hoạchRèn cán, Chỉnh quânđể loại bỏ các sĩ quan Việt Minh thuộc thành phần trí thức tiểu tư sản và đưa thành phần bần cố nông ít học vào hàng ngũ sĩ quan của bộ đội Võ Nguyên Giáp. Từ năm 1950, Trung Cộng đã mở hai trung tâm đảo tạo quân sự tại Nam Ninh (Quảng Tây) và Kaiyuan (Vân Nam) phụ trách huấn luyện quân sự các sĩ quan Việt Minh và tuyển chọn người trung thành với Trung Quốc. Song song với việc viện trợ quân sự giúp Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam đánh quân Pháp, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, Trung Cộng đã tiến hành kế sách đào tạo người cộng sản Việt Nam trở thành người học trò tốt, tuân lệnh và ngoan ngoãn theo lời chỉ dạy, thi hành nhiệm vụ rập theo khuôn mẫu Trung Quốc. Mục tiêu của kế sách Trung Quốc là phá tiêu tan nguồn sinh lực của dân tộc Việt Nam và buộc đảng Cộng Sản Việt Nam phải triệt để trung thành với đảng Cộng Sản Trung Quốc. Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam phụ trách Việt Nam có nhiệm vụ cài đặt nhân sự vào các cấp đảng và chánh quyền cộng sản Việt Nam, trải rộng khắp mọi nơi.
(Ninh Cơ, Việt Nam: Tỉnh hay Khu Tự Trị, Nhựt báo Sài Gòn Nhỏ số 226 ngày 3-7-2009)
Để thống trị dễ dàng nước Việt Nam và nhanh chóng sát nhập nước ta vào đế quốc Đại Hán, đảng Cộng sản Tàu đã chỉ thị “cơ sở đảng chư hầu An Nam” do Thiếu tá Hồ Quang lãnh đạo và rèn luyện:
- Giết sạch tầng lớp nhân sĩ, trí thức và tinh hoa của dân tộc Việt để nước Việt Nam không còn người lãnh đạo sáng suốt và chuyên viên có nhiều tài năng;
-  Liên tục gây chiến tranh để tiêu diệt người Việt càng nhiều càng tốt với võ khí do Trung Quốc cung cấp và tàn phá tối đa đất nước Việt Nam;
- Đẩy mạnh đấu tranh giai cấp và tận dụng bạo lực của chuyên chính vô sản để gây ra hận thù vô phương hàn gắn giữa đồng bào người Việt khác biệt địa phương, chánh kiến, tôn giáo và thành phần xã hội;
- Thi hành chánh sách Cải Cách Ruộng Đất rập theo khuôn mẫu Trung Quốc để tàn sát dã man trên 172,000 đồng bào ở nông thôn miền Bắc từ 1952 đến 1956;
- Tạo lập một đội ngũ cán bộ cộng sản trung thành với Trung Quốc. Những người cộng sản Việt Nam đã có can đảm nói lên lập trường “đời đời nhớ ơn Trung Quốc” và “ không được vong ân bội nghĩa” đối với Đại Hán như Đại tá Trần Đăng Thanh của Học Viện Chánh trị Bộ Quốc Phòng phải được trọng dụng. Thuộc thế hệ trước Trần Đăng Thanh, thi nô Tố Hữu (bí danh Lành), Trưởng Ban Văn Hóa Tư Tưởng đảng Cộng Sản Việt Nam, là người đứng đầu trong đội ngũ cán bộ cộng sản trung thành với Trung Quốc. Hán nôTố Hữu luôn luôn được nhân dân Việt Nam nhớ đến với hai câu thơ vô tổ quốc sau đây:
“Bên ni biên giới là nhà”
“Bên kia biên giới cũng là quê hương”
4-“Trăm Năm Trồng Người”
Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã nhiều lần dạy bảo các cấp lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam về kế hoạch “Trăm NămTrồng Người”: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người mới xã hội chủ nghĩa. Để đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam trung thành với hai đảng Việt Cộng và Trung Cộng, một trường “Thiếu niên Việt Nam” đã được thành lập tại Lư Sơn (Quảng Tây) thâu nhận và huấn luyện trẻ em Việt Nam từ 9 đến 15 tuổi trong nhiều năm để trở thành những cán bộ nồng cốt của đảng và nhà nước Việt Nam triệt để trung thành với hai đảng Cộng sản Việt Trung. Nhiều người tốt nghiệp trường “Thiếu niên Việt Nam” ở Lư Sơn, Quảng Tây, đã và đang giữ những chức vụ lãnh đạo trong Đảng và Nhà nước Việt Nam. Một số đã là thành viên của bộ Chánh trị đảng Cộng sản, Chánh phủ và Ban Thường vụ Quốc Hội. Một trường hợp điển hình là việc trọng dụng Hoàng Trung Hải, một người Hoa tốt nghiệp trường “Thiếu niên Việt Nam” ở Quảng Tây, trong chức vụ Bộ trưởng bộ Tài Chánh và Phó Thủ tướng đăc trách các dự án Đầu Tư.
5-Hán hóa Việt Nam
Ngay từ năm 1951, một năm sau khi Hoa quân nhập Việt giúp Việt Minh đánh Pháp, Hồ Chí Minh ra lịnh cho Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), Tổng Thơ Ký đảng Lao Động (tức đảng Cộng Sản) mới thành lập, công bố một bản Hiệu triệu nhân dân Việt Nam bỏ chử Quốc ngữ để học chử Hán, bỏ Tây y để dùng lại cao đơn hườn tán và xin làm chư hầu của Trung Quốc. Tinh thần thần phục Hán tộc đã được thể hiện thông qua nhiều hình thức của “Quyền lực mềm” (Soft power), nhứt là việc ưu tiên sử dụng người Việt gốc Hoa, dạy trẻ em Việt Nam học tiếng Hán ngay từ cấp 1, thành lập các Viện Khổng Tử và hạn chế học sử Việt trong thời đại Hồ Chí Minh mà thôi.
6-Chuyển nhượng chủ quyền lãnh thổ Việt Nam cho Trung Quốc
Hồ Chí Minh đã đi bước đầu trong quá trình sát nhập Việt Nam vào Trung Quốc: ra lịnh cho Thủ tướng Phạm văn Đồng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt cộng sản) gởi Công hàm ngày 14-9-1958 đến Thủ tướng Chu Ân Lai của Quốc Vụ Viện Trung Quốc để chánh thức công nhận chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện nay, Trung Quốc đã lợi dụng Công hàm Phạm văn Đồng để chiếm đoạt hầu hết Biển Đông của Việt Nam. Bản đồ 9 đoạn của Trung Quốc (gọi là Lưỡi Bò) nhiều nơi đi sâu vào Vùng Đặc Quyền Kinh tế 200 hải lý, Vùng Tiếp cận Lãnh hảỉ 12 hải lý hoặc Lãnh hải 12 hải lý của Việt Nam. Hồ Chí Minh và Phạm văn Đồng đã đi xuống địa ngục nhưng đã để lại một di hại vô cùng trầm trọng cho đất nước Việt Nam. Công hàm Phạm văn Đồng đã thật sự chuyển giao cho Trung Quốc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên  hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và làm mất quá nhiều tài nguyên dồi dào của Biển Đông, chận bít đường đi ra hải phận quốc tế của tàu thuyền Việt Nam vì Biển Đông hay Biển Nam Hải (South China Sea) nay đã trở thành một nội hồ của Trung Quốc đã có căn cứ quân sự,  bến cảng lớn và chắc chắn sẽ có hệ thống Nhận Dạng Phòng Không (Air Defense Identification Zone) của Tàu Cộng như trên Biển Hoa Đông (East China Sea).
Kết luận
Vì nhận thấy Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc có viễn kiến sáng suốt về một con hồ đỏ sẽ gieo trồng trái đắng để tàn sát nhân dân Việt Nam, Hồ Chí Minh đã ra lịnh cho Việt Minh trừng phạt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ bằng cách giết chết ngay từ năm 1945 1,720 đạo hữu Cao Đài tại Quảng Ngải và trên 1,000 chức sắc và đạo hữu Cao Đài tại bìa rừng Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
Ngoài ra , Hồ Chí Minh đã hai lần ra chỉ thị cho Cao Triều Phát (1889-1956), một đại địền chủ ở Bạc Liêu theo Việt Minh, mưu sát vị lãnh đạo Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, lần đầu tiên với sự trợ giúp của Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, thành viên Ủy Ban Kháng Chiến tỉnh Tây Ninh. Nhưng âm mưu sát hại vị lãnh đạo Đại Đạo Cao Đài Tây Ninh bất thành vì Cao Triều Phát chấp nhận chịu chết dưới tay Hồ Chí Minh thay vì ám hại người đồng đạo đức cao trọng vọng. Cao Triều Phát, một nhân sĩ trí thức người Việt gốc Hoa, nguyên quán Triều Châu, Trung Hoa, đã tập kết ra Bắc Việt sau khi hiệp định Geneve được ký kết ngày 20-7-1954. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã về trời tại Pnom Penh từ năm 1959 nhưng nhà cầm quyền cộng sản vẫn còn căm thù Ngài. Năm 1978, đảng Cộng sản kết tội Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là phản quốc, hại dân, chống phá cách mạng. Mới đây, ngày 27-8-2015, hai tên côn đồ ngang nhiên mang giày xông vào Hộ Pháp Đường trong Tòa thánh Tây Ninh, một tên dùng búa đập lên trán pho tượng Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc còn một tên quay phim, chụp hình. Sau khi đập phá xong, hai tên côn đồ nầy ung dung lên xe chạy đi mất.
Ngày nay, dưới ảnh hưởng nặng nề của Hồ Chí Minh, một điệp viên Tàu tàn ác có nhiều quỷ kế thâm độc nhưng được thần thánh hóa trong lúc còn sống cũng như sau khi qua đời, dân tộc Việt đã dần dần bị nô lệ hóa dưới ách thống trị của các Thái thú bản xứ của Hán tộc; so với thời Pháp thuộc, nước Việt đã mất đất, biển, hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, cao nguyên Trung Phần, rừng đầu nguồn, tô giới Tàu và rất nhiều tài nguyên quốc gia. Sự tồn tại của nước Việt Nam với tư cách một thành viên của Liên Hiệp Quốc chỉ còn trên danh nghĩa mà thôi. Ngày nước Việt Nam chánh thức trở thành  một quận huyện hoặc một Khu Tự trị trực thuộc tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc không còn xa. Lời tiên tri của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc từ năm 1941 đã trở thành hiện thực. Trong hiện tình đất nước, nếu không muốn sử dụng “Quyền lực của quần chúng” và “Quyền dân tộc tự quyết” để phục hồi nhân quyền và các quyền tự do dân chủ của công dân một nước độc lập, 87 triệu đồng bào không cộng sản ở quốc nội
sẽ phải chấp nhận thân phận nô lệ của người bị trị. Dầu muốn hay không, họ cũng bắt buộc phải tiếp tục thờ phượng người “Cha Già dân tộc” gốc Tàu theo kế hoạch của đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xây dựng vô số tượng đài Hồ Chí Minh từ khắp trong nước ra đến các nước ngoài như tại thị trấn Newhaven, Anh quốc, nơi có một người thợ nhồi bột mì tên Nguyễn Tất Thành làm việc chân tay cho một tiệm bánh mì của người Pháp ở London trước năm 1917.

California, 15-9-2015
Thẩm phán Phạm Đình Hưng

Bạn có biết: Theo https://truehochiminh.wordpress.com/2013/08/02/hcm-co-bao-nhieu-ten-goi-but-danh-bi-danh/

27. Lý Thụy, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc. Ngày 11 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu với các giấy tờ tùy thân mang tên Lý Thụy. Trong bức thư gửi Quốc Tế Cộng Sản, ngày 18 tháng 12, 1924, Nguyễn Ái Quốc ghi ở cuối thư: Trong lúc này tôi là một người Trung Quốc, chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc.” 
Theo Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 9, trong thư cho Chủ tịch đoàn Quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh xác nhận y là người Tầu, tên Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc, một người An nam.

126. Chí Minh, 1950.  Ngày 9 tháng 11, 1950 khi nghe tin người anh là Nguyễn Sinh Khiêm mất, Hồ Chí Minh viết một điện thư chia buồn dòng họ Nguyễn Sinh. Cuối điện thư, ký tên Chí Minh.
Điều nầy chứng tỏ Hồ Chí Minh không có liên hệ máu thịt với dòng họ Nguyễn Sinh, nên Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Sinh Cung/Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc.

Thursday, August 18, 2016




Dân Làm Báo VN
Viết về Hồ Chí Minh

Nguyễn Hữu Tư 14909 (‪#‎Danlambao‬) - Khi viết về Hồ Chí Minh, các tác giả Việt Nam và ngoại quốc thường bị sập bẫy (bị lừa) của Cộng sản Quốc tế và Cục Tình báo Hoa Nam là đồng hóa Hồ Chí Minh (1942), một người Tầu với Nguyễn Tất Thành (1911), về sau đổi tên là Nguyễn Ái Quốc (1914), một người Việt Nam.

Theo tài liệu của cộng sản Việt Nam thì Hồ Chí Minh xuất hiện từ năm 1942 đến năm 1969, chết vì bệnh tim, còn Nguyễn Tất Thành xuất hiện năm 1911, sau đổi tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện từ năm 1914 đến năm 1932. Như vậy Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao năm 1932 (Tình báo KGB xác định Nguyễn Ái Quốc (Нгуен Ай Куок), đã qua đời năm 1932, tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932), hài cốt được chôn cất tại nghĩa trang Kuntsevo, Moscow).

Và mười năm sau, Hồ Chí Minh mới xuất hiện (1942) và chết vì bệnh tim năm 1969.

Có thể nào: một người trẻ 40 tuổi bị bệnh lao nặng, ho ra máu, (lúc đó chưa phát minh ra trụ sinh để chữa bệnh lao) mà về già 79 tuổi lại chết vì bệnh tim chăng?

Nguồn: Bút hiệu của Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc

Trong Hồ Chí Minh Toàn tập là bút tích của mình, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc" (Thư gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản viết từ Quảng Châu, Trung quốc ngày 18 tháng 12 năm 1924).

Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 8-9.

Trong thư Từ Trung Quốc, Số 1, vào vai một nữ đảng viên Quốc Dân đảng, tên Loo Shing Yan, Hồ Chí Minh viết: "Các đồng chí biết rằng, nước tôi, Trung quốc, bị kềm kẹp tàn nhẫn..."

Nguồn Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 6-7.

Với bút danh Trần Thắng Lợi trong bài Đảng ta, Hồ Chí Minh Toàn tập, trang 1015-1016, Hồ Chí Minh viết: "Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi,..." chứng tỏ Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc là hai người khác nhau.

Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, trang 1015-1016.

Xem thêm ở đây: Tìm tòi và lượm lặt: AI CHẾT VÌ BỆNH LAO TRONG TÙ VÀO CUỐI NĂM 1932?

Nhiều bạn đọc thắc mắc: không thấy lá đơn xin học Trường Thuộc địa thuộc Chính phủ bảo hộ Pháp của Nguyễn Tất Thành in trong Hồ Chí Minh Toàn tập? Xin thưa vì Nguyễn Tất Thành (về sau lấy tên Nguyễn Ái Quốc) không phải là Hồ Chí Minh!

Nguồn: Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một 'thông báo' về nước?

Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh, tiểu sử Hồ Chí Minh được ghi như sau:

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.
(http://www.baotanghochiminh.vn/tabid/464/Default.aspx)

Đây là lối viết áp đặt ngay từ tiền đề: Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và là Nguyễn Ái Quốc mặc dù trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 8-9, chính Hồ Chí Minh xác nhận; "Tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc".

Một chứng cớ nữa chứng tỏ Hồ Chí Minh không có liên hệ máu thịt gì với dòng họ Nguyễn Sinh ở Kim liên, Nam đàn, Nghệ an, Việt nam.

"121. Chí Minh, 1950.

Ngày 9 tháng 11, 1950 khi nghe tin người anh là Nguyễn Sinh Khiêm mất, Hồ Chí Minh viết một điện thư chia buồn dòng họ Nguyễn Sinh. Cuối điện thư, ký tên Chí Minh."

Nguồn: Những bí danh và bút danh Hồ Chí Minh

Nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung/Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc, khi được tin ông anh cả Nguyễn Sinh Khiêm mất thì theo phong tục Việt nam, Nguyễn Sinh Cung/Hồ Chí Minh phải về quê ở xã Kim Liên, huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ an để chịu tang ông anh cả chứ sao lại gửi điện chia buồn với dòng họ Nguyễn Sinh? Điều đó chứng tỏ Hồ Chí Minh chỉ mượn tạm cái tên Nguyễn Sinh Cung chứ không có liên hệ máu mủ gì với ông anh trưởng Nguyễn Sinh Khiêm cả.Thật thế, "cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra"!

Nguyễn Hữu Tư 14909
danlambaovn.blogspot.com