Monday, June 20, 2016

Đập Tam Hiệp


              ĐẬP TAM HIỆP ĐANG THÁCH THỨC SỰ TỒN VONG CỦA TRUNG QUỐC !!!



ĐẬP TAM HIỆP ĐANG THÁCH THỨC SỰ TỒN VONG CỦA TRUNG QUỐC !!!

ĐẬP TAM HIỆP thách thức sự tồn vong của nước Tàu


Đập Tam Hiệp

Đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam) hay còn gọi là Đập Tam Vực, là đập lớn nhất thế giới được Trung Quốc xây cất hoàn thành vào năm 2009. Đây là một công trình kỷ thuật cao độ có sự cọng tác của nhiều chuyên gia trên thế giới và là một kiến trúc khổng lồ chưa từng thấy, đã gây tranh cãi nhiều nhất thời hiện đại, đã di dời hơn 1,000,000 dân Trung Quốc vùng này, và nhận chìm nhiều danh lam thắng cảnh đẹp nổi tiếng của Trung Quốc, cũng như nhiều di tích lịch sử trong biển nước mênh mông đập nầy tạo ra.



Nhưng Đập Tam Hiệp vĩ đại này cuối cùng có thể trở thành một Sai Lầm vĩ đại.




Đập Tam Hiệp

Theo bản tường trình của phóng viên Sanya Khetani trên tờ Business Insider thì khi Đập Tam Hiệp được hoàn thành vào vào năm 2006, hầu hết mọi người dân TQ tin rằng nó sẽ đền bù lại xứng đáng cho sự tổn thất mà nó đã gây ra khiến cho 1.4 triệu dân phải bỏ làng bỏ thành thị để di cư nhường chỗ cho cái đập này, rằng nó sẽ đáp ứng được cơn đói năng lượng ngày càng gia tăng tại TQ. Nhưng những cầu mong của họ đã không được hồi đáp.
Sáu năm sau ngày hoàn thành thì chính quyền lại tuyên bố rằng thêm 100 ngàn dân nữa phải di dời chỗ ở vào những năm tới, kể cả 20 ngàn phải di tản ngay trong năm 2012 vì nạn đất chuồi gia tăng quanh vùng của đập nước (theo báo cáo của Reuters.)
Đập Tam Hiệp được xây cất tại vùng Tam Đẩu Bình, của lưu vục Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc là một trong ba nhánh của sông Dương Tử (tức Trường Giang, sông dài thứ 3 trên thế giới) .



Flickr/Pedro Vásquez Colmenares (Source: ctg.com.cn)

Đó là một nhà máy thủy điện lớn nhất trên thế giới


Wikimedia Commons/Le Grand Portage/Rehman

Đập cao đến 600 bộ, dài 1.4 dặm có 286 cổng thoát nước và lưu giữ một hồ nươc lớn và dài 400 dặm, có một hệ thống 25 turbines phát điện . (Nguồn: The New York Times)
Trong khi con số kinh phí công bố chính thức là $23 tỷ, nhưng các chuyên gia quốc tế tin rằng con số đó phải cao gấp 2 lần.



AP (Source: The New York Times) .

. Công trình phải mất hơn 10 năm để hoàn thành.



Getty Images/China Photos

Kế hoạch này đã được khởi xướng bởi ông Tôn Dật Tiên, nhưng chỉ đến năm 1994 mới khởi công và được hoàn tất vào năm 2008. (Source: the BBC)
Nó nhắm vào tiêu chuẩn là phải sản xuất trên 18,000 MW điện lực mỗi năm .



Getty Images/China Photos

Đó la lượng điện năng lớn hơn gấp 8 lần năng xuất của Đập Hoover của Hoa Kỳ nhưng chỉ đáp ứng được 3% nhu cầu điện năng của TQ. (Source: Scientific American). Đồng thời nó cũng nhắm vào mục đích ngăn chặn nạn lụt thường xuyên xảy ra trong vùng.



Getty Images/ChinaFotoPress (Source: PBS)

Công trình này cũng giúp gia tăng số lượng hàng hóa vận chuyển trên sông lên thấu 50 triệu tấn mỗi năm, tức gấp 3 lần trước khi có đập.



Getty Images/China Photos (Source: China Daily)

Nhưng hệ thống đập thủy điện này đã có những vấn đề lớn ngay từ khi khởi công.



Getty Images/China Photos

Khoảng 1.4 triệu người đã bi đẩy ra khỏi chốn cư trú của họ khi việc xây dựng đập băt đầu, gồm 13 thành phố, 140 thị trấn và 1,350 làng xã đã bị nước phủ chìm khi lượng nước trong hồ dâng cao với sức chứa là 40 tỷ mét khối. (Source: The New York Times)
Và trong vòng 3 đến 5 năm tới, thêm 100 ngàn dân sẽ bị đẩy đi nơi khác vì nạn đất chuồi và lở bờ.



AP (Source: the BBC)

Nạn đất chuồi và những thiên tai khác đã gia tăng lên 70% kể từ khi hố chứa tích đầy nước kể từ năm 2010.



Getty Images/China Photos

Sức nặng khủng khiếp của lượng nước trong hồ cọng thêm với mức nước lên xuống theo mùa đã khiến cho bờ sông hết vững chắc theo thông tin của đài BBC. (Source: AP)
Nhiều người cho rằng đập thủy điện này đã tạo ảnh hưởng trong cuộc động đất ở Tứ Xuyên trong năm 2008 khiến 87,000 người chết dù rằng chính quyền bác bỏ nguồn tin này..



AP (Source: AP)

Có 1,300 địa điểm khảo cổ đã bị chìm khuất dưới nước..



Getty Images/China Photos

trong số đó có các di tích cỗ còn sót lại của giống người “Ba” đã từng cư ngụ trong vùng này 4,000 năm trước, theo tin của CNN. (Source: PBS) Đập thủy điện này càng làm cho nạn hạn hán tại TQ vào năm 2011 thêm trầm trọng.



Flickr/Euclid vanderKroew

Theo tờ The New York Times cho biết thì dù chưa có bằng chứng cụ thể nhưng những chỉ trích đều cho rằng đập thủy điện đã khiến cho mức phân phối nước bị giảm đi ở các vùng hạ lưu khiến người dân trong những vùng đó không kiếm ra nước uống trong thời gian hạn hán kể từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2011 January-April 2011,. Thông tấn xã tỉnh Tứ Xuyên cho biết số người bị ảnh hưởng hạn hán lên tới 10 triệu người. Nạn hạn hán này được cho là tệ nhất trong vòng 50 năm qua. (Source: Nature)
Nạn hạn hán đã làm tắt nghẻn thủy lộ ở hầu hết những điểm được cho là thuận lợi của Đập: Các tàu thuyền bị mắc cạn, miền trung và miến đông của TQ bị thiếu hụt điện.



Getty Images/Andrew Wong (Source: Nature)

Các chuyên gia về môi trường nói rằng hồ chứa của đập đã tích lủy rác rến của các thành phố và các nhà máy.



Getty Images/China Photos

Trên 265 tỷ gallons nước cống được thải vào sông Dương Tử hàng năm và giờ đây chúng lại tập trung vào hồ chứa thay vì trôi xuống vùng hạ lưu và ra biển. Tuy nhiên theo tin của NPR thì chính quyền xác định rằng các nhà máy xử lý nước cống đã kiểm soát được nạn ô nhiểm này. (Source: PBS)
Nhưng cuối cùng thì chính quyền phải thừa nhận rằng có nhiều vấn đề phát sinh trong năm 2011, tức 5 năm sau khi đập thủy điện được xây dựng.



Wikimedia Commons

Quốc vụ Viện của Trung Quốc nói rằng họ đã biết về một số vấn đề đó ngay trước khi xây đập cách đây 17 năm, trong khi một số vấn đề khác đã được phát sinh kể từ đó bởi vì “tình hình kinh tế và xã hội đã tạo ra những đòi hỏi mới”. Nhưng, tuy với những thừa nhận chậm trể này, đập thủy điện vẫn luôn tạo vấn đề tranh cải. Một phần ba tổng số các nghị viên đã bỏ phiếu phản đối đập thủy điện này hoặc tránh né bàn cải đến. (Source: the BBC). Nhưng Trung Quốc vẫn muốn xây dựng thêm nhiều đập thủy điện nữa.



Getty Images/China Photos

Có nhiều dự án xây một loạt đập thủy điện trên một đoạn sông trong vùng thượng lưu sông Dương Tử mà nếu cọng lại thì lượng nước tích trử sẽ lớn gấp hai hồ chứa nước của Đập Tam Hiệp. Nhưng theo tin của AP, không những vùng này thường bị địa chấn, mà dự án này còn khiến cho Đập Tam HIệp bị thiếu hụt nước..
Những dự án khác gồm cả xây dựng nhiều đập dọc dòng sông Nu (tức sông Salween chảy xuyên từ Tây Tạng qua Trung Quốc, Miến Điện và Thái Lan) và ở thượng nguồn sông Mekong, nhưng theo tin của Foreign Policy thì đó là những dự án tai hại cho môi trường và sinh vật hiếm ở dọc các sông nầy (Source: Nature)
Ở trong thời bình thì Đập Tam Hiệp đóng góp rất tích cực cho sự phồn thịnh của nhân loại, nhưng ở trong thời chiến tranh với nhiều va chạm quyền lợi thì nó trở nên một mối đe dọa cho nước TQ vì nếu địch quân nhắm vào việc phá hủy chiếc đập này ắt sẽ gây tai họa khủng khiếp cho TQ.
Vì sao ? Dưới đây là những lý do:





- Trong khi tsunami (sóng thần) do thiên nhiên tạo ra, phát xuất từ đại dương tràn vào lục địa gây ra sự tàn phá và chết chóc kinh hoàng cho một vùng dân cư rộng lớn (như đã xảy ra ở Nam Duơng, Thái Lan, Nhật Bản trong quá khứ gần đây) .. thì ngược lại, ở Đập Tam Hiệp có thể tạo ra hiện tượng tsunami do con người gây nên khi phá hủy đập này.
Vì tham vọng mà mù quáng mà người Tàu đã tạo thù oán với thế gìới và chỉ cần một hành động nhỏ của kẻ địch là khối tsunami ở đập Tam Hiệp sẽ ào ra.
Hiện tượng nầy sẽ tàn phá và chết chóc cho TC trong khoảnh khắc từ 5,10 giây cho đến 30 phút là xong tất cả !!
Sẽ không có một sức lực nào trên thế gian có thể cưỡng lại hay ngăn chận được cơn sóng thần do đập vỡ tạo ra.
- Hằng trăm triệu dân Tàu sẽ bị cuốn ra biển Đông theo con sông Dương Tử rộng lớn.
- 1/3 nước Tàu – vùng thịnh vượng nhất – mà dân cư sinh sống sẽ bị chôn vùi trong nước lụt...
- Các di tích lịch sử mà TC thường hãnh diện với thế giới hằng ngàn năm qua, sẽ tan biến trong nước lũ.
- Hằng ngàn thành phố lớn nhõ sẽ bị ngập lụt..
- Hằng chục ngàn nhà máy kỹ nghệ, xưỡng, hãng sản xuất hàng để xuất cảng sẽ bị tàn phá, ngập nước và sẽ bị trôi di mất tang mất tích.
- Hằng trăm ngàn làng mạc, lớn nhỏ sẽ bị nước từ hồ chứa của Đập Tam đổ xuống làm ngập lụt.
- Hàng chục ngàn tàu bè thương mãi, kỹ nghệ, du lịch sẽ bị tan tành vì hằng triệu tấn nước đỗ xuống hằng giây .. nhận chìm chúng trước khi tống chúng ra Biển Đông ..
- Nền kinh tế của TQ.. bỗng dưng khựng lại .. hệ thống xuất cảng trong bao năm qua ..mặc nhiên trở thành hệ thống nhập cảng mọi mặt để cho dân chúng xử dụng. Nạn đói sẽ hoành hành trong quốc gia mang mộng xâm lược này..
- Trung cọng sẽ không còn ngóc đầu lên nỗi.
Từ trước đến nay, TC cứ tưởng là công trình xây cất Đập Tam Hiệp là khôn ngoan, là nguồn cung cấp điện năng lớn lao nhất thế giới của TC, cực kỳ rẽ tiền, tiện lợi cho kỹ nghệ sản xuất, nhưng với sự tính toán của các chiến lược gia HK cũng như Á châu thi Đập Tam Hiệp có thể trở thành của nợ .. duy trì nó thì lợi bất cập hại mà tháo gỡ nó là không thể được ..
Nếu tình hình thế giới căng thẳng do mộng xâm lăng của Trung Cọng tạo nên thì Đập Tam Hiệp (Trung cọng) sẽ trở thành mục tiêu – con tin vĩnh viễn -- cho Hoa Kỳ.
Nếu Hoa Kỳ không lợi dụng quan điểm chiến lược nầy thì sẽ trở nên chàng khỗng lồ khờ khạo nhất thế giới. Nhưng liệu nếu có chiến tranh thực sự thì Hoa Kỳ có đánh sập Đập Tam Hiệp không ?
Thiết nghĩ chiến tranh của thế kỷ 21 sẽ không nhằm gây tai họa cho dân lành cho nên các nhà chiến lược chỉ để Đập Tam Hiệp trong tầm nhìn chiến lược dự phòng thôi chứ không mang ra thực hiện, cũng giống như kho vũ khí nguyên tử của Hoa Kỳ có thừa sức để hủy diệt bất cứ quốc gia nào nhưng họ sẽ không bao giờ đem ra xữ dụng mà chỉ để trưng bày như thánh vật nhằm răn đe.
Thiết nghĩ chiến lược hiện nay, khi nhắm triệt hạ chính quyền của một nước là … thay vì giết dân của nước đó làm cho chính quyền mất đi nhân lực thì trái lại, các chiến lược gia chỉ nhắm vào kinh tế và tâm lý của người dân, họ sẽ cấm vận đối với chính quyền đó, sẽ khiến cho tâm lý của người dân ghét bỏ chính quyền của họ và tự động đứng lên tố cáo và đạp đổ nó mà thôi.
Theo chiến lược này, thế giới tự do không muốn trở thành kẻ thù của nhân dân một nước nào cả, mà là trở thành bạn hữu, nếu nhân dân của một nước muốn triệt hạ chính quyền của họ thì thế giới tự do sẽ đóng vai một người bạn của dân tộc đó (chứ không phải thù gây chiến tranh và chết chóc) đứng ở ngoài giúp đỡ dân tộc này chống lại chính quyền thù địch của họ, giúp họ hiểu rằng đó là một chính quyền đáng ghét và bất tài, gây nghèo đói cho dân và đang tạo nhiều thiệt thòi cho dân. Chỉ bao giờ người dân trong một nước hoàn toàn ngu muội theo phe của chính quyền để chống lại thế giới tự do thì lúc đó mới là trường hợp cần phải xử dụng đòn phép cuối cùng là tàn phá đất nước của họ vì … cả chính quyền lẫn nhân dân của nước đó đều xứng đáng bị trừng phạt bởi họ luôn nuôi dưởng cơn mộng xâm lăng làm bá chủ thiên hạ và ức hiếp và nô lệ hóa các nước lân bang .
Chính quyền Trung Quốc biết rõ sự mong manh của họ đối với nhân dân, nếu họ càng ra tay đàn áp thì họ càng dễ bị lật đổ, vì thế họ phải hết sức lấy lòng dân, họ vuốt ve dân bằng “chủ nghĩa Đại Hán”, xúi dân tộc Tàu kiêu ngạo và hãnh diện với sức mạnh của Trung Quốc hiện tại, và khi dân Đại Hán đã kiêu ngạo rồi thì thế giới khó lòng mở trí cho họ biết được sự sai trái của họ. Và dân tộc Hán cùng với chính quyền Cọng Sản TQ sẽ cùng nhau gánh vác tội lỗi xâm lăng của họ và chịu sự trừng phạt xứng đáng của thế giới tự do.
Với chiến lược khôn ngoan của thế giới tự do (đặc biệt là Hoa Kỳ) muốn trở thành bạn của các dân tộc và luôn đứng cạnh những dân tộc bị đàn áp để giúp đỡ chống lại cường quyền thì… những chính quyền đàn áp dân (như chính quyền Việt Cọng hiện nay) sẽ mặc nhiên trở nên một chướng ngại đầy ngu dốt trước mắt người dân, vì càng đàn áp nhân dân của mình, thì dân mình càng ghét bỏ mình và tiếp đó là người dân sẽ ngãnh mặt để hoan nghênh tiếp đón bàn tay giúp đỡ của thế giới để đánh lại họ.
Việt Nam tuy không có chiếc đập thủy điện nào tích chứa lượng nước lớn đáng để đánh phá, nhưng chính sự đàn áp của chính quyền đối với dân Việt đã là một chiếc đập khổng lồ tích lũy sự căm hờn của dân tộc, và chắc chắn chiếc đập chứa căm hờn này sẽ vỡ ra trong những ngày sắp tới để quét sạch bọn chính quyền khốn nạn ra ngoài biển Đông để chúng bơi lội vẫy vùng với bọn cá mập ngoài đó.
Điền Phong


Chiến lược thâm hiểm của Trung Quốc


Chiến lược thâm hiểm của Trung Quốc
 
Nói về Biển Đông mà không nắm vững chiến lược và chiến thuật của Hoa Kỳ cũng như Trung Quốc, chỉ đọc các tin tức về các diễn biến đang diễn ra mỗi ngày, thường được thổi phòng để phục vụ cho các mục tiêu từng giai đoạn, rất khó biết được chính xác “Địch” và “Đồng Minh” đang làm gì và sẽ đưa Biển Đông đi tới đâu. Suy nghĩ và hành động theo cảm tính thường đưa tới chiến bại.
Chúng tôi đã viết nhiều bài nói về chiến lược của Mỹ ở Biển Đông dựa trên sự phân tích và phê phán của một số chuyên gia quốc tế, đó là xử dụng “chiến lược chiến tranh ủy nhiệm” (poxy war strategy) bằng cách gây áp lực và thúc đẩy các quốc gia trong khu vực hình thành một lực lượng đối phó với Trung Quốc, còn Mỹ chỉ đứng ngoài yểm trợ, bán vũ khí và xin gia tăng chi phí quốc phòng để sáng chế các vũ khí mới. Chiến lược này đã được áp dụng tại Trung Đông và đang thành công, nhưng nó đã thất bại khi thử đem áp dụng tại Đông Âu. Còn tại Biển Đông thì sao?
Related image
Giáo sư Alexander L. Vuving
Chúng tôi cũng đã nghiên cứu, nói và viết nhiều lần về mục tiêu và chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông. Qua các cuộc nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy rằng công trình nghiên cứu và phân tích của Giáo sư Alexander L. Vuving về vấn đề này rất hữu ích. Ông là Giáo sư trường Đại Học Tulane, dạy về các môn Quan hệ Quốc tế và đang tham gia vào Các cuộc Nghiên cứu về An ninh của Trung Tâm Á Châu Thái Bình Dương Daniel K. Inouye ở Honolulu, một viện nghiên cứu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Chúng tôi xin tổng kết những tài liệu chính của ông về Biển Đông để giúp độc giả thấy rõ hơn tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông, cách thức hành động của Trung Quốc để đạt mục tiêu  họ muốn, Mỹ và các cường quốc đang đối phó như thế nào.
THỰC HIỆN “GIẤC MƠ TRUNG QUỐC”
Giáo sư Alexander L. Vuving cho rằng chiến lược lấn chiếm Biển Đông của Trung Quốc chỉ là một phần của một nỗ lực lớn hơn để đạt được “Giấc mơ Trung Quốc”, khôi phục lại vị trí mà Trung Quốc tự cho là chỗ đứng xứng đáng của họ, đó là ở trên đầu các quốc gia khác.
Chúng tôi xin nhắc lại, ngày 17.3.2013, tại Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ 12, kỳ họp thứ nhất. Tập Cận Bình được bầu làm Chủ tịch Nước. Trong bài phát biểu ông đã đề cập đến cụm từ "Giấc mơ Trung Quốc ". Sau đó cụm từ này được sử dụng rộng rãi trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc. Tập Cận Bình mô tả rằng "Sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa là giấc mơ lớn nhất của Trung Quốc". Ông cũng tuyên bố rằng những người trẻ tuổi nên "dám ước mơ, làm việc cần mẫn để thực hiện những ước mơ và đóng góp vào sự phục hồi của quốc gia".
Sau đó, Tập Cận Bình đưa ra quyết định tái cơ cấu, hiện đại hóa và tăng cường khả năng chiến đấu của quân đội Trung Quốc nhằm mục đích bắt kịp trình độ các cường quốc ở châu Âu và Mỹ, mở rộng phạm vi hoạt động của quân đội Trung Quốc ra bên ngoài lãnh thổ quốc gia.
Giáo sư Alexander L. Vuving cho rằng nếu các đối thủ của Trung Quốc không có đối sách bẻ gãy chiến lược này, Trung Quốc sẽ nổi lên như là chúa tể của Biển Đông, ít nhất là trong nhận thức của hầu hết các nước trong khu vực. Từ đây, sẽ chỉ còn vài bước để vươn tới vị trí bá quyền khu vực và toàn cầu. Theo ông, trong thực tế, huyết mạch của nền kinh tế châu Á chạy qua Biển Đông, và châu Á đã trở thành chấn tâm kinh tế thế giới, ai kiểm soát Biển Đông sẽ thống trị châu Á, và bất cứ ai thống trị châu Á sẽ thống trị thế giới.
CHIẾN LƯỢC LẮT LÉO CỦA TRUNG QUỐC
Alexander L. Vuving nói rằng Trung Quốc đang theo đuổi một chiến lược dựa trên những nguyên tắc rất khác với lối nghĩ thông thường. Triết lý đằng sau chiến lược này có thể được tìm thấy trong Binh pháp của Tôn Tử. Ý tưởng then chốt là làm sao để “không đánh mà vẫn thắng” (winning without fighting). Mục tiêu tổng thể là giành quyền kiểm soát Biển Đông nhưng không phải thông qua các trận đánh lớn mà qua các hoạt động từng bước thay đổi thực địa, tạo dựng một sân chơi có lợi cho mình, làm thay đổi về mặt tâm lý những tính toán chiến lược của các quốc gia khác. Lý luận cơ bản của chiến lược này là khéo léo tác động lên các cấu hình chiến lược của khu vực để làm thay đổi thực tế theo xu hướng có lợi cho sự thống trị của Trung Quốc.
Ngày 28.5.2013, tờ Daily Mail Trung Quốc xuất bản bài viết với tiêu đề “Trung Quốc tự hào chiến lược khôi phục các đảo, bãi đá ngầm bị Philippines chiếm đóng” dựa trên cuộc phỏng vấn truyền hình với Tướng Trương Triệu Trung của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Ông này cho biết Hải Quân đang vây hãm đảo Scarborough, đảo nằm trên Biển Đông và đang là tâm điểm tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines, như chiếc "cải bắp" với nhiều tàu chiến. Khi có tranh chấp lãnh hải, đầu tiên Trung Quốc đưa tàu cá đến khu vực, tiếp theo là tàu hải giám và cuối cùng là tàu chiến. Mỗi lúc thích hợp lại sử dụng một lớp, xiết chặt dần hơn để khẳng định yêu sách của Bắc Kinh. Chiến lược này được gọi là “chiến lược bóc lá bắp cải” hay “chiến lược tằm ăn dâu”.
Theo Xinhua, tính đến cuối năm 2013, hơn 50.000 tàu cá của Trung Quốc được trang bị hệ thống định vị vệ tinh Bắc Đẩu, giúp kết nối với lực lượng tuần duyên Trung Quốc mỗi khi có sự cố trên biển. Họ chỉ phải trả 10% giá trị thiết bị, còn lại chính quyền hỗ trợ. Các ngư dân ở đảo Hải Nam nói với Reuters rằng chính phủ khuyến khích họ đi đến các vùng có tranh chấp. Mỗi tàu có động cơ 500 mã lực được trả 320-480 USD mỗi ngày. Bình luận trên National Interest, tác giả Harry J. Kazianis cho rằng vũ khí lợi hại nhất của Bắc Kinh không phải là quân sự mà có thể là các tàu cá.
 Image result for china fishing boat
Các tàu đánh cá Trung Quốc đang ra khơi
Theo Giáo sư Alexander L. Vuving, có ba yếu tố cần có để theo đuổi chiến lược bành trướng lắt léo của Trung Quốc. Yếu tố đầu tiên là tránh tối đa những trận đánh lớn. Yếu tố thứ hai là kiểm soát các vị trí chiến lược trong khu vực nếu những vị trí này còn chưa có ai chiếm hữu. Cần phải chiếm một cách âm thầm lén lút nếu có thể, và bằng một cuộc xung đột có giới hạn nếu cần thiết. Yếu tố thứ ba là phát triển những vị trí này thành các trạm kiểm soát mạnh, các trung tâm hậu cần vững chắc và các căn cứ triển khai sức mạnh quân sự một cách hiệu quả. Tất cả đến nhằm thiết lập uy thế và chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.
THÀNH QUẢ TRUNG QUỐC ĐẠT ĐƯỢC
Kể từ năm 2014, quần đảo Trường Sa đã trở thành một công trường xây dựng lớn độc nhất vô nhị. Hàng chục tàu của Trung Quốc đã làm việc suốt ngày đêm, cắt san hô và nạo vét cát đáy biển để biến những rạn đá chìm thành đảo nổi nhân tạo. Trong vòng chưa đầy một năm, Trung Quốc đã tạo ra hơn 10 km vuông đất mới trên 7 địa điểm khác nhau trên cả quần đảo mà tổng diện tích đất ban đầu chỉ có khoảng 4 km vuông. Bãi Chữ Thập, chìm ở thuỷ triều cao khi bị Trung Quốc chiếm đóng vào năm 1988, giờ đã là một hòn đảo rộng 2,74 km2 đủ lớn để chứa một đường băng dài 3.100 mét và một bến cảng rộng 63 ha. Tuy là đảo nhân tạo, Bãi Chữ Thập đã gấp gần 6 lần diện tích hòn đảo tự nhiên lớn nhất ở Trường Sa là đảo Ba Bình, nhưng nó vẫn nhỏ hơn hai hòn đảo nhân tạo khác. Vào tháng 6 năm 2015, Trung Quốc đã tạo được 4 km vuông đất tại Xu bi và và 5,6 km vuông đất tại Vành Khăn, và những con số này vẫn đang tiếp tục tăng trưởng.
     Related image
            Cảnh đảo Phú Lâm
Trên đảo Phú Lâm, Trung Quốc gần đây đã nâng cấp một đường băng dài 3.000 mét và một cảng nước sâu dài 1.000 mét. Đường băng này có khả năng đón nhận ít nhất 8 máy bay thế hệ thứ tư như máy bay chiến đấu SU-30MKK và máy bay ném bom JH-7, trong khi các bến cảng có thể tiếp nhận những tàu có trọng tải từ 5.000 tấn trở lên. Một đường băng và một cảng có kích cỡ tương tự đã được xây dựng tại Bãi Chữ Thập.
Trung Quốc có thể không tấn công những thực thể địa lý mà các quốc gia khác đang chiếm đóng nhưng họ sẽ tăng cường nỗ lực bí mật kiểm soát những thực thể địa lý chưa có người nhưng ở vào những vị trí chiến lược. Trung Quốc sẽ không chịu đưa tranh cãi ra toà, và vì là quốc gia mạnh nhất trong khu vực, Bắc Kinh có thể thi hành bất cứ điều gì mà họ tự cho là hợp pháp. Mục tiêu của Bắc Kinh dường như là muốn chiếm ưu thế trên không và trên biển vào những lúc mà không có sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ. Trung Quốc có thể sẽ không cản trở các tuyến thương mại trên không và trên biển ở Biển Đông, nhưng sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu như Trung Quốc sẽ thỉnh thoảng chặn một số tàu thuyền và máy bay, cả dân sự lẫn quân sự, của những quốc gia phản đối những nỗ lực bá quyền khu vực của họ.
RỒI BIỂN ĐÔNG SẼ ĐI VỀ ĐÂU?
Giáo sư Alexander L. Vuving đặt câu hỏi: Vậy kết cục của cuộc chơi xây dựng đảo này sẽ là gì? Và ông trả lời:
Vai trò của các hòn đảo nhân tạo này trong thời kỳ chiến tranh và ở phương diện luật biển rất đáng hoài nghi. Những hòn đảo này quá nhỏ và quá cô lập để có thể chống đỡ các cuộc tấn công lớn, chúng có thể dễ dàng trở thành gánh nặng trong thời gian chiến tranh. Chỉ là đảo nhân tạo, những thực thể địa lý này sẽ không thể được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý. Vậy tại sao Trung Quốc lại đầu tư những nguồn lực khổng lồ để tạo ra những hòn đảo này? Trung Quốc cần những đảo này làm gì?”
Khi vẽ đường chín đoạn, Trung Quốc muốn dựa vào học thuyết “vùng nước lịch sử” (historic water) để coi Biển Đông như ao nhà của Trung Quốc. Nhưng Luật Biển năm 1982 không công nhận “vùng nước lịch sử”, nên Trung Quốc quyết định dùng sức mạnh để áp đặt tham vọng của họ. Tuy nhiên, vì sức mạnh của Trung Quốc chỉ có giới hạn, Trung Quốc phải áp dụng “chiến lược tằm ăn dâu” để lấn chiếm dần. Nhưng các đảo nhân tạo do Trung Quốc xây dựng, như Giáo sư Alexander L. Vuving đã phân tích, có giá trị rất ít về phương diện quân sự cũng như kinh tế, và khi chiến tranh xảy ra, nó có thể bị thanh toán một cách dễ dàng.
Phải chăng khi nhận ra tham vọng và các yếu điểm về chiến lược của Trung Quốc, Hoa Kỳ đã tương kế tựu kế, tuyên bố “xoay trục” về Á Châu và “biểu dương khí thế” để khích thích Trung Quốc gia tăng việc thiết lập các căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo ở Biển Đông, rồi thổi phồng lên để xin gia tăng chi phí quốc phòng như tờ Washington Post đã tố cáo?
Báo cáo “Hiện đại hóa hải quân Trung Quốc: Ảnh hưởng đối với hải quân Mỹ” do Quốc hội Mỹ công bố cho biết số lượng tàu ngầm của Trung Quốc hiện nay dao động trong khoảng 66 đến 75 chiếc. Theo phân tích của Ủy ban Quân sự Hạ viện Mỹ, số lượng tàu ngầm của quân đội Trung Quốc có thể đạt con số 99 chiếc vào trước năm 2030.
Trong khi đó, lực lượng chống ngầm của Mỹ và đồng minh quá mạnh. Chỉ riêng Mỹ và Nhật Bản đã có gần 200 chiếc máy bay tuần tiễu chống ngầm P-3C Orion, P-1 Kawasaki và P-8A Poseidon. Số lượng máy bay này thừa sức giăng thiên la địa võng khắp Biển Đông và Biển Hoa Đông, phong tỏa lối ra vào Thái Bình Dương. Trung Quốc lại thiếu căn cứ tàu ngầm hạt nhân tên lửa đạn đạo, chỉ có một căn cứ tàu ngầm chiến lược tại đảo Hải Nam. Các chuyên gia Mỹ nói rằng các lực lượng tàu ngầm Trung Quốc còn rất nhiều điểm yếu mà nếu khai thác triệt để thì việc tiêu diệt lực lượng này là không quá khó.
Nhìn qua các chiến lược và chiến thuật của Địch và Đồng Minh trên Biển Đông, chúng ta thấy rằng số phận của Biển Đông đã vượt ra ngoài tầm tay của các nước nhỏ trong vùng như Việt Nam, Philippines và Mã Lai. Do đó, phương thức tranh đấu để bảo vệ Biển Đông của người Việt đấu tranh hiện nay không có tác dụng nào đáng kể.
Ngày 16.6.2016
Lữ Giang

Thursday, June 16, 2016

Bài viết cho các vị chưa lú hẳn

8503. Bài viết cho các vị chưa lú hẳn

Posted by adminbasam on 29/05/2016
Nguyễn Nguyên Bình
29-5-2016
Vẫn không thể dừng lời quanh vụ cá chết hàng loạt trên biển Đông. Vì những người tự gọi là lãnh đạo, tự nhận phần quyết định tuyệt đối, tự nhận ‘lo’ tất cả mọi việc của đất nước đến giờ này vẫn chưa đưa ra được nguyên nhân chính xác của sự vụ nghiêm trọng này. Dư luận đã chỉ ra: đây không chỉ là họa cá chết mà sẽ là một họa diệt chủng nếu không nhận rõ nguyên nhân của mọi nguyên nhân và tìm cách rốt ráo khắc phục. Theo tôi, nguyên nhân sâu xa của nó vẫn không tách khỏi cái ‘gien’ di truyền bành trướng bá quyền của tập đoàn cầm quyền Bắc Kinh.
1- Nói thêm ít lời về gien di truyền bành trướng bá quyền đại Hán
Gần đây, khi đi công du một số nước Âu, Mỹ, người đứng đầu tập đoàn Bắc Kinh bỗng   không khảo mà xưng lên rằng: người Trung Quốc không có ‘gien’ bá quyền bành trướng! Nghe mà bật cười, nhớ đến một chuyện tiếu lâm của ta xưa. Chuyện kể nhà nọ bán thịt lợn sề (mà theo dân gian thì thịt lợn sề độc, không nên ăn), mới dặn thằng con là phải giấu đừng cho ai biết. Thằng bé sốt sắng vâng lời, nên mỗi khi có khách đến định mua, nó đều nói lớn ngay rằng: thịt này không phải thịt lợn sề đâu đấy! Khách nghe nói vậy bèn sinh nghi, xem kĩ thịt, thì phát hiện đúng là thịt lợn sề thật, rồi bỏ đi, không mua…
Cái gien, hay cái máu bành, bá của Trung Quốc, ai còn lạ. Nó có từ xưa với cái lý tưởng truyền đời mà những người có tí máu mặt trong đất nước đó thường tâm niệm, đã sống làm người thì phải: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Cả mấy ngàn năm phong kiến, người ‘quân tử Tàu’ đã trung thành với lý tưởng ‘bình thiên hạ’ (đó chỉ là cách nói tránh cho cái tham vọng muốn cướp hết đất đai của các nước khác để làm bá chủ mà thôi). Rồi đến thời cộng sản, thì họ cần phải che giấu cái ý đồ ‘bình thiên hạ’ đi. Nên ngoài miệng họ hô hào xây dựng thế giới đại đồng, chỉ để bàn tay hoạt động, tiếp tục ra sức đánh chiếm đất đai lãnh thổ, lãnh hải các nước mà họ điêu trẹo họng gọi là ‘thu hồi’ lãnh thổ bị mất.
Một điều đặc biệt là, từ khi Trung Quốc xuất hiện đảng cộng sản thì những người cầm đầu đã không ngừng đấu đá sát phạt lẫn nhau trong các cuộc mà họ gọi là ‘đấu tranh đường lối’. Các phe phái trong đảng đấu nhau rất tàn bạo, quyết liệt, không ngán cả đầu rơi máu chảy. Thế nhưng, dù thắng dù thua, không phe nào chịu từ bỏ cái tâm đen bành trướng bá quyền. Mao Trạch Đông là người thắng nhiều nhất trong các cuộc đấu, vì vậy đã có nhiều cơ hội thể hiện máu ‘bá, bành.’ Có thể dẫn ra vài câu nói rất thô lỗ của ông ta: “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á” hay “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém để chiếm lấy”…
Đặng Tiểu Bình, đối thủ chính trị rất nặng kí của Mao, người mà Mao đã phải phát động cả một cuộc ‘Cách mạng văn hóa’ nổi tiếng khủng khiếp để đấu cho bằng được, đấu đến lên bờ xuống ruộng, bị gọi là ‘tên số 2 trong Đảng đi theo chủ nghĩa tư bản’ thì sao? Sau khi Mao chết, Đặng trở lại chính trường, ông ta không hề chọn con đường nào khác Mao. Vẫn là bành trướng bá quyền đại Hán. Thậm chí còn thể hiện hung hăng quyết liệt hơn qua việc phát động cuộc chiến tranh tháng 2- 1979 xua hàng mấy chục vạn quân sang thực hiện cái gọi là ‘trừng phạt Việt Nam’ vì đã phá kế hoạch bá quyền Đông Nam Á của Trung Quốc.
Một người khác, cũng là đối thủ đáng gờm, bị Mao xếp vào hạng ‘đối tượng đấu tranh đường lối’ là Chu Ân Lai. Dưới mắt thiên hạ, ông này trông có vẻ tử tế khiêm cung. Thế nhưng, cũng không tránh khỏi căn bệnh đại Hán, trong các xử lý quan hệ các nước, vẫn trung thành với đường lối nước lớn bắt nạt nước nhỏ của Mao. Điều đó đã thể hiện trong nội dung mật đàm với Kissinger, bắt tay với Mỹ, giành quyền lợi ích kỉ của Trung Quốc, làm hại quyền lợi của Việt Nam và các nước từng là đồng chí anh em với Trung Quốc (tài liệu đã bạch hóa trên nhiều trang mạng và bạn đọc còn có thể tham khảo thêm bài viết về Vụ đấu tố khủng khiếp với Chu Ân Lai tại Bộ chính trị Trung Quốc trong Blog Phạm Viết Đào).
Ông Tập Trọng Huân, cha đẻ Tập Cận Bình, cũng từng bị Mao gán tội “cầm đầu nhóm chống Đảng” và bị cách hết chức vụ, bị phủ định mọi công lao, bị bỏ tù và ngược đãi trong thời gian dài. Bản thân Tập Cận Bình, trong những năm diễn ra cuộc ‘Đại cách mạng văn hóa’, tuy còn nhỏ nhưng cũng đã từng bị bè lũ Mao làm nhục bằng cách chụp mũ giấy, bắt diễu phố, tống ngục giam, rồi bị đày về nông thôn hẻo lánh sống rất khổ cực. Vậy mà ngày nay, khi lên làm vua Trung Quốc, Tập Cận Bình vẫn hăng hái kế tiếp đường lối bành trướng bá quyền do Mao truyền lại. Thậm chí Tập Cận Bình còn thực hiện đường lối đó vừa hung hăng vừa lắt léo, hơn hẳn các bậc tiền bối.
Căn bệnh bành, bá nọ còn có nguy cơ phát tác ở Trung Quốc ngay trong thời kì ‘ hậu cộng sản’ trong tương lai nữa kia. Thật vậy, hãy ngẫm nghĩ chút về hiện tượng một ngôi sao đang lên của Trung Quốc là tướng Lưu Á Châu với nhiều phát biểu rúng động. Bài nói của Lưu Á Châu tại căn cứ quân sự ở Côn Minh (Trung Quốc) ngày 10- 5- 2010 đang được nhiều trí thức Việt Nam khen hay, cho là ngôn từ mạnh dạn, quan điểm mới mẻ, vì ông ta đã thẳng thắn tỏ ra ngưỡng mộ thể chế dân chủ đa nguyên đa đảng của nước Mỹ, lại thẳng thắn vạch ra những yếu kém, lạc hậu của chính dân tộc Trung Quốc. Nhưng nếu xem kĩ sẽ thấy ở đó vẫn không giấu nỗi khát vọng thống trị thế giới.
Động cơ thúc đẩy Trung Quốc chuyển đổi sang thể chế đa nguyên đa đảng là gì? Lưu Á Châu nói: “Tư tưởng dân chủ đã ăn sâu vào sinh mạng, huyết mạch của họ (người Mỹ). Một dân tộc như thế họ không cường thịnh thì ai cường thịnh? Họ không thống trị thế giới thì ai thống trị?” Không biết nước Mỹ, dân Mỹ có chủ tâm thống trị thế giới hay không, nhưng ở đây rõ ràng ông Lưu Á Châu đã bộc lộ dã tâm muốn thống trị thế giới, đặc sản Trung Hoa rồi. Ông ta còn nhấn nhá thề thốt (với ai đây?) rằng: “Tôi là một người trung thành với chủ nghĩa dân tộc, trong bất cứ tình huống nào, tôi cũng xem lợi ích dân tộc là tối cao. Vì điều đó, tôi chấp nhận sứt đầu mẻ trán…”.
Như vậy, cứ như khẩu khí của con người có vẻ cấp tiến này thì không chừng thể chế dân chủ đa đảng kiểu Mỹ cũng chỉ có thể được ‘trưng dụng’ để làm tăng thêm sức mạnh cho chủ nghĩa bành trướng bá quyền đại Hán mà thôi. (Một điều đáng chú ý là: Lưu Á Châu gần đây cứ nói oang oang, viết sắc lẻm về ý tưởng đòi thay đổi thể chế chính trị độc tài độc đảng ở Trung Quốc mà không bị mấy người cầm đầu đảng CSTQ đụng đến một sợi lông chân nào cả, ông ta vẫn tiếp tục đeo lon thượng tướng, vẫn chễm chệ ngồi ghế Chính ủy Đại học quốc phòng. Còn ở Việt Nam thì sao? Các vị khai quốc công thần như Trần Độ, Trần Xuân Bách chỉ mới hé miệng bàn về dân chủ đa đảng mà đã bị ‘Đảng ta’ trù dập tơi bời, đến chết vẫn không yên thân. Đủ biết giới cầm quyền Trung Quốc thâm sâu, tỉnh táo hơn lãnh đạo Việt Nam nhiều).
Gần đây nhất và dễ thấy nhất là ‘cặp đôi’Tập Cận Bình> < Giang Trạch Dân. Đôi này đang sát phạt nhau ra dáng, nhưng cả hai đều chẳng ai kém ai về thành tích xiển dương chủ nghĩa bá, bành. Ai chẳng biết, Giang Trạch Dân chính là người thiết kế ra cái Mật nghị Thành Đô tai hại, còn Tập Cận Bình chính là kẻ đang hăng hái triển khai tinh thần mật nghị đó.
Như vậy, chủ nghĩa bành trướng bá quyền đại Hán vẫn là bộ phim dài còn lâu mới đến tập cuối mà nhân dân Việt Nam bị buộc phải xem trong một cái rạp chiếu cũ nát, chật chội, nóng bức, hôi hám, bị khóa chặt; đói khát, ngộp thở mà vẫn không thể bỏ về…Chủ nghĩa bành trướng bá quyền đại Hán không những có lịch sử lâu đời mà còn có cả một hệ thống lý luận, bài bản hướng dẫn cụ thể, sắc sảo. Một trong những bài bản của nó là sách Tôn Tử binh pháp. Binh pháp Tôn Tử (BPTT)không chỉ là thuật dụng binh, nó đã và đang được những người cầm quyền Trung Quốc vận dụng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, rất hữu hiệu. Vì BPTT dạy cho họ kế sách ‘sáng suốt nhất trong sự sáng suốt’, không cần đánh mà khuất phục được kẻ địch…
2- Vụ cá chết hàng loạt – Formosa và liên hoàn kế
H1Cá voi chết, trôi dạt vào biển Nghệ An. Ảnh: VOV
Có thể khẳng định vụ cá chết ở biển từ Vũng Áng kéo dài về phía Nam không phải là ngẫu nhiên, cũng không phải là đơn độc. Nó chính là một khâu trong chương trình đã lập sẵn của mộng bá quyền Trung Quốc, là sự thể hiện của các kế sách trong ‘tam thập lục kế’ của sách Binh Pháp Tôn Tử. Các kế sách đó đang được Bắc Kinh thi triển trong nhiều năm qua. Nhất là từ khi lãnh đạo VN sáng tác ra cái gọi là ‘nền kinh tế thị trường định hướng XHCN’, lấy đó làm phương sách phát triển cho VN. Vì ‘kinh tế thị trường định hướng XHCN’ chẳng qua chỉ là một nền kinh tế tư bản hoang dã được (bị) điều hành bởi một triều đình nhiều vua, bản thân nó vốn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro, mong manh dễ đổ vỡ nên rất tiện cho phía Trung Quốc thao túng, lợi dụng.
Nói cụ thể hơn, vụ cá chết vừa qua trước hết là nằm trong kế liên hoàn (kế thứ 35 trong BPTT), kế đó nói: sử dụng nhiều kế liên tiếp, móc nối nhiều kế với nhau tạo thành chuỗi móc xích hoàn chỉnh, tạo phản ứng dây chuyền khiến đối phương rối loạn không biết bắt đầu gỡ mối từ đâu. Cố gắng lần tìm riềng mối, thì thấy có lẽ phía TQ đã bắt đầu từ kế ‘Tiếu lý tàng đao’ (kế thứ 10 trong 36 kế): dấu dao trong nụ cười. Nụ cười ở đây chính là ‘4 tốt, 16 chữ vàng’, còn con dao thì chính là các dự án TQ đầu tư vào VN lâu nay. Đó là dự án Bô xít Tây Nguyên, các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lạc hậu, các dự án thuê đất trồng rừng ở những nơi hiểm yếu, và hiểm độc nhất là cụm công nghiệp Formosa cùng với cảng nước sâu Sơn Dương ở Hà Tĩnh…
Để có thể đặt chân vào các địa điểm trên đất VN, qua mắt dư luận có phần nghi ngại, phía TQ đã có kế ‘Man thiên quá hải’, kế thứ nhất trong 36 kế, nghĩa là che trời để qua biển. TQ đã tìm cách nấp sau các nhà đầu tư không phải TQ. Ví dụ, họ đã nấp sau các nhà đầu tư Indonexia và Malaixia để vào được các dự án Trung tâm nhiệt điện Duyên Hải (Trà Vinh), Trung tâm nhiệt điện Sông Hậu 2 (Hậu Giang), và dự án đang bị dư luận soi nhiều nhất là Formosa Hà Tĩnh. Họ đã ‘man thiên’ bằng các cách như: mua lại dự án, hối lộ để giành chân tổng thầu EPC, cho vay tiền vốn thi công hoặc liên doanh với chủ đầu tư… Đứng chân vào các dự án lớn, họ đạt được nhiều mục tiêu. Đó cũng là thủ đoạn thường thấy của những nhà chính trị TQ: “một mũi tên nhắm nhiều đích”, lợi cho TQ, hại cho VN, như: 
– Thu lợi nhuận từ khâu thiết kế, thi công (là mục tiêu thông thường và có thể coi là chính đáng).
– Bán thiết bị thế hệ cũ với giá đắt.
– Giành việc làm cho lao động phổ thông TQ.
– Vơ vét tài nguyên quý hiếm của VN.
– Khống chế địa bàn hiểm yếu về quân sự quốc phòng.
– Với dự án không thu được lợi nhuận, thậm chí bị lỗ thì lại đặt mục tiêu phá hoại đầu độc môi trường (điển hình như bô xit Tây Nguyên, Formosa).
Muốn trót lọt kế ‘man thiên’ nói trên, TQ không thể bỏ qua kế ‘Phao chuyên dẫn ngọc’ – kế thứ 17, nghĩa là: ném ra hòn ngói, thu về hòn ngọc (hay như dân ta thường nói là thả con săn sắt, bắt con cá rô). Họ có thể hối lộ một khoản tiền rất lớn so với thu nhập của cá nhân, nhưng lại là khá nhỏ so với mối lợi thu được từ dự án (mẹo này của họ không có gì lạ, có thể tìm được nhiều dẫn chứng ngay trong báo chí chính thống).
Một kế nữa đã thi hành: ‘Tá đao sát nhân’ – kế thứ 3 trong Binh Pháp Tôn Tử, nghĩa là mượn dao giết người. Cùng với việc tự tay giết chóc ngư dân VN trên biển Đông; TQ còn khiến cho ngư dân VN gặp nhiều khó khăn khi đánh bắt trên ngư trường truyền thống, phải dạt xuống đánh bắt ở ngư trường phía Nam. Nhiều khi quá bước lọt qua lãnh hải mấy nước như Malaixia, Indonexia, liền bị các nước đó trừng trị, hoặc bắt giam, bắt phạt, thậm chí đánh chìm tàu, chết người…Đó chẳng phải mượn dao giết người sao?
Kế khác: ‘Quan môn tróc tặc’ – kế thứ 22, nghĩa là đóng cửa để bắt kẻ địch. Bao nhiêu năm qua, TQ đã tìm mọi cách bao vây ngăn chặn mọi đường ra của VN. Họ đã xây nhiều nhà máy thủy điện ở đầu nguồn sông Mê kong trong đất TQ, lại dụ Lào, Campuchia và giành phần xây ‘giúp’ các nhà máy thủy điện để dần làm cạn dòng Cửu Long, triệt đường làm ăn của cư dân đồng bằng Cửu Long. Rồi lại giành phần xây các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lạc hậu cũng tại đồng bằng sông Cửu Long để phá hoại môi trường nơi đây. Vậy là họ đã đóng được cửa phía Tây và phía Nam của ta. Ở phía  Tây, phía Bắc, thì đã có các dự án trồng rừng biên giới, bô xit Tây Nguyên, phía Đông thì có Nghi Sơn, Vũng Áng… còn cửa ra nào cho VN ta? Vậy họ muốn ‘bắt’ ta lúc nào chẳng được!
Cặp bài trùng của kế ‘quan môn’ kia là kế ‘Phản khách vi chủ’ – kế thứ 30. Báo chính thống cũng cho biết, tất cả các nơi TQ thuê đất của VN, họ đều ngang nhiên coi như tô giới riêng, họ chiếm quyền làm chủ, còn quản lý địa phương vốn là chủ thì trở thành khách, thậm chí không bằng khách, vì họ chẳng bao giờ tỏ thiện chí mời loại khách này vào thăm, đương nhiên có muốn xin vào thăm, họ cũng chẳng cho (trừ trường hợp vừa rồi, ông Tổng Trọng bỗng dưng được họ mời vào thăm rất trân trọng).
Đã thực hiện được ‘phản khách vi chủ’ trên đất của Việt Nam, nhưng đôi khi cần thiết, TQ vẫn không ngại dùng ‘Khổ nhục kế’ – kế thứ 34. Sự việc chưa xa là vào giữa năm 2014, khi nhân dân VN phẫn nộ xuống đường biểu tình đòi giàn khoan HD 981 của TQ cút khỏi biển Đông. Người Việt thì biểu tình ôn hòa, nhưng chính TQ đã kích động một số phần tử quá khích xông vào đập phá mấy nhà máy mang yếu tố Trung Quốc để lu loa, đòi nhà cầm quyền VN phải xin lỗi, phải bồi thường. Và đau hơn, là đã khéo léo khiến phía VN phải lấy gậy tự đánh vào đồng bào mình, bênh che cho TQ. (cái kế này, người VN đã từng biết, và các cụ ta gọi nôm na nó là ‘cào l.. ăn vạ’).
Còn đây, kế quan trọng nhất cũng đã thi hành: ‘Cầm tặc cầm vương’ – kế thứ 18, nghĩa là muốn bắt ‘giặc’thì cốt nhất là phải bắt được vua của nó. Thực tế quá rõ rồi, các ông vua đều đã bị họ cầm tù bằng gái, bằng tiền và bằng… ý thức hệ! Nên bây giờ họ muốn gì được nấy, bảo gì nghe nấy. Thực tế cũng đã cho thấy, khi ‘cầm Vương’ rồi, họ liền thi hành kế ‘Thâu lương hoán trụ’ – kế thứ 25. Nghĩa là họ đã giành quyền thay đổi, sắp xếp nhân sự quan trọng trong lãnh đạo VN. Sự này đâu còn là điều gì bí mật qua mấy kì đại hội?
Bài viết đã quá dài, không thể vạch vòi cho đủ những cách TQ vận dụng cả 36 kế sách để o ép VN. Cần nói, kế sách TQ dùng để ‘bình thiên hạ’ không chỉ thể hiện ở những sách chuyên về chính trị quân sự, mà còn có thể tìm thấy ở cả những sách văn chương như kiểu Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử v.v… Vì tư duy trị quốc gắn với bình thiên hạ nó đã khu trú quá lâu trong trí não người TQ. (Xin mạn phép cung cấp dưới bài viết một danh mục sách nên đọc để hiểu sâu hơn về lý tưởng Tu – tề – trị – bình của các chính khách TQ cổ kim).
Cho đến lúc này, đã trên 50 ngày trôi qua rồi mà nghi án Formosa xả độc làm chết cá, chết môi trường biển VN vẫn chưa được làm sáng tỏ. Nhưng như trên đã nói, Formosa có thực sự dính án hay không thì nó cũng chỉ là một mắt xích trong liên hoàn kế của chủ nghĩa bá, bành Trung Quốc. Không có Formosa thì đã có bao nhiêu dự án tai hại khác. Quan trọng là những người có quyền chấp nhận hay bác bỏ dự án TQ trên đất nước mình có đủ tỉnh táo, khôn ngoan và có tâm với đất nước hay không.
Làm lãnh đạo (nhất là lãnh đạo độc quyền toàn trị như bây giờ) có chịu đọc các sách vở TQ, VN và thế giới hay không. Hay thì giờ vàng ngọc của các vị còn phải dùng để tính toán kiếm tiền ‘phao chuyên’ từ các dự án TQ, hoặc để chơi bời đàng điếm, hoặc để nghĩ mưu mẹo đối phó trấn áp những phản biện đúng đắn, những yêu cầu chính đáng của nhân dân, đối phó với cả các ‘đồng chí’ không cùng phe cánh?
Xin nhắn các vị: không đọc thì là vô trách nhiệm, đọc mà không hiểu thì là vô trí tuệ, đọc hiểu mà không dám ra tay hóa giải các chiêu trò cùa TQ thì là vô bản lĩnh. Các vị có muốn nhận mình là loại người lãnh đạo ‘tam vô’đó hay không? Theo tôi, chưa có thì giờ nhiều, thì ít nhất (nếu chưa lú hẳn) các vị hãy vào mạng mà đọc cho được cuốn Binh Pháp Tôn Tử đã có bản tiếng Việt, ít chữ thôi, chưa đến 100 trang khổ sách thông thường. Cũng mong các vị tìm đọc các bài của nhân vật đang nổi của TQ Lưu Á Châu, và bài nói nóng hổi của tổng thống Obama mới nói ở Mỹ Đình ngày 24-5-2016 vừa qua. Các bài này đều rất dễ tìm trên mạng. (Lưu ý, bài nói của ông Obama có mấy bản dịch, xin hãy tìm bản chuẩn của Sứ quán Mỹ cung cấp). Các vị có biết bao nhiêu người VN đồng tình và hoan nghênh bài nói đó không? Các vị nên tìm hiểu để biết lòng dân bây giờ ra sao. Xin chào!
_____
Danh mục sách tối thiểu cần đọc để hiểu về các kế sách trị quốc, bình thiên hạ của các nhà cai trị ở Bắc Kinh:
  1. Binh Pháp Tôn Tử (đã có tiếng Việt)
  2. Tứ thư ngũ kinh (Hiện chưa có bản tiếng Việt, các lãnh đạo muốn đọc thì cho dịch ra).
  3. Sử ký Tư Mã Thiên (đã có tiếng Việt).
  4. Tam Quốc Diễn Nghĩa (rất nhiều bản tiếng Việt).
  5. Tuyển tập Mao Trạch Đông (chưa thấy bản tiếng Việt).
  6. Đặng tiểu Bình, một trí tuệ siêu việt (sách này đã xuất bản chính thống ở VN, đã và đang bị dư luận ném đá vì ca ngợi nhân vật đã lên tiếng ‘trừng phạt VN’. Quả thật không nên phổ biến trong nhân dân, nhưng lấy làm sách cho lãnh đạo tham khảo thì cần thiết).
  7. Tập đại thành cải cách mở cửa của TQ (không biết đến nay đã có cơ quan nghiên cứu nào dịch ra chưa, nhưng tôi biết sách đã có ở vài thư viện lớn ở nước ta).
  8. Và cuốn sách chính thống cuả Việt Nam: Sự thật quan hệ Việt – Trung trong 30 năm qua – NXB Sự Thật.

Sunday, June 12, 2016

Phỏng vấn Nguyễn Thanh Tú, con trái Ky giả Đạm Phong bị ám sát năm 1982





1- Nếu có ai đó hỏi bạn: Anh/chị có muốn một người ngoại quốc mà anh chị quý trọng và ngưỡng mộ, làm chủ tịch nước Việt Nam hay không?
Chắc chắn câu trả lời dứt khoát của anh/chị là: Không.
2- Nếu có ai đó hỏi bạn: Anh/chị có muốn người của một quốc gia khác, dân tộc khác thay thế người Việt Nam, dân tộc Việt Nam quyết định thể chế chính trị cho đất nước Việt Nam không?
Chắc chắn câu trả lời dứt khoát của các anh/chị là: Không.
3- Nếu có ai đó hỏi bạn: Anh/chị có muốn dân của một nước khác, cho dù họ là dân của một nước tự do, văn minh và hùng mạnh nhất thế giới thay thế bạn lựa chọn người lãnh đạo quốc gia Việt Nam không?
Chắc chắn câu trả lời dứt khoát của anh/chị là: Không.
3- Và nếu có ai đó hỏi bạn: Anh/chị là người Việt Nam, anh/chị có muốn hy sinh quyền lợi của Việt Nam vì, cho một nước khác không?
Chắc chắn câu trả lời dứt khoát của anh/chị là: Không.
Qua những câu trả lời khẳng định của anh/chị chúng ta, người dân Việt Nam hiểu được gì:
1- Người nước ngoài không có bổn phận và trách nhiệm gì đối với quốc gia và dân tộc mình và ngược lại.
2- Trong một quốc gia chỉ có công dân của quốc gia đó mới có quyền quyết định chế độ chính trị cho đất nước của mình. Bất cứ một quốc gia, một dân tộc nào xâm phạm đến quyền tự quyết của một dân tộc khác thì đó là hành động xâm lăng và ngược lại.
3- Dân của nước khác không thể làm thay cho dân mình trong bổn phận và trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc mình và ngược lại.
4- Nếu chúng ta không chịu hy sinh vì quốc gia và dân tộc của mình thì trên thế giới này không một ai làm công việc đó thay cho chúng ta và ngược lại.
Kính thưa các anh/chị, Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại hầu như có rất ít vốn liếng để mặc cả với các thế lực cường quốc trong việc tranh giành ảnh hưởng cho mình, cho dù các thế lực đó là bạn hay thù. Mỹ rút khỏi miền Nam Việt Nam trong đầu thập niên 70, Liên Sô bất động khi Trung Cộng xua quân xâm lăng 6 tỉnh thành của Việt Nam ở sát biên giới Việt-Trung trong cuối thập niên 70 đã chứng minh điều đó. Chúng ta không thể trách họ bởi vì người Mỹ phải vì nước Mỹ, người Nga phải vì nước Nga, đổi lại nếu Việt Nam là Mỹ, là Nga trong những thời điểm đó thì chúng ta cũng phải có quyết định không khác gì họ. Phân tích như vậy để chúng ta thấy được rằng chỉ có tinh thần tự chủ, tự quyết mới chính là nền tảng vững chắc để một dân tộc bảo vệ và xây dựng tổ quốc của mình. Sự trợ giúp của nước ngoài tuy cần thiết nhưng thứ yếu và bao giờ cũng có điều kiện đi kèm.
Nước Việt Nam sau 70 năm cai trị của đảng cộng sản vẫn là một nước chậm tiến, nghèo và lạc hậu so với các nước văn minh tiến bộ trên thế giới. Không có tự do, vắng bóng dân chủ, triệt tiêu quyền người, họa mất nước đang cận kề, nhân dân đang bị đầu độc, bị khủng bố, xã hội đang băng hoại, tương lai mịt mờ. 
Kính thưa các anh/chị, chưa bao giờ đất nước cần thay đổi như hôm nay, chưa bao giờ tổ quốc cần chúng ta như hôm nay. Ông bà ta có câu: Chờ mạ (mẹ) má sưng, ngay đến mẹ mình cũng không nên trông cậy huống chi là người ngoài. Xin hãy hành động, đừng để người nước ngoài nói với chúng ta - người Việt Nam - rằng: “Rốt cuộc thì nhân dân Việt Nam là những người quyết định xem xã hội của họ sẽ hoạt động ra sao, và chính phủ của họ thế nào.” (*)
11/06/2016

 
 
Avatar
"1- Nếu có ai đó hỏi bạn: Anh/chị có muốn một người ngoại quốc mà anh chị quý trọng và ngưỡng mộ, làm chủ tịch nước Việt nam hay không? Chắc chắn câu trả lời dứt khoát của anh/chị là: Không" (Lê Dũ Chân).
Trả lời câu hỏi 1-) của tác giả trong trường hợp của đất nước Việt nam thì chúng ta thấy rằng: đảng cộng sản VN đã bắt buộc, cưỡng ép dân tộc Việt nam quý trọng, ngưỡng mộ và tôn thờ một người Tầu là Hồ Chí Minh (Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, Trang 9, bản PDF: "Trong lúc nầy, tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc") làm chủ tịch nước Việt nam, chủ tịch đảng cộng sản VN, thậm chí Nguyễn Phú Trọng, TBT đảng cộng sản VN còn trân tráo muốn biến đất nước Việt nam thành "đất nước Hồ Chí Minh" nữa (Nguồn: bài đọc nhân kỷ niệm 125 ngày sinh của tên Tầu phù nầy!). Sở dĩ có sự oái ăm như vậy trên 80 năm nay trong lịch sử Việt nam cận đại là vì hễ ai biết được tông tích của Hồ Chí Minh đều bị thủ tiêu, ám sát (Hồ Tùng Mậu, Lâm Đức Thụ, ... đều bị giết hay thủ tiêu bằng cách nầy hay cách khác vì họ biết rõ lý lịch của Hồ Chí Minh là một người Tầu). Ngoài ra sự lừa dối và che dấu nầy đã được đội ngũ trí thức, sử gia, văn nô XHCN, điển hình như Hoàng Bích Sơn, Dương Trung Quốc, ... mà Mao Trạch Đông đã so sánh "trí thức không bằng cục phân". Nông dân và công nhân là 2 thành phần chủ lực của chủ nghĩa cộng sản nhưng sự hiểu biết của họ bị hạn chế ngoài loại trí thức XHCN, nhưng loại trí thức nầy biết sự thật mà không dám nói vì sợ tiếng kêu răng rắc của cơ bẫm đưa viên đạn lên nằm trong nòng súng như ban tuyên giáo trung ương đã mô tả.
Xin các bạn trong mạng vui lòng phân tích thêm ở những câu hỏi tiếp theo.

Sunday, May 1, 2016

Nhớ về 30 tháng 4

http://pppre.s3.amazonaws.com/3374793288e5880f/b/49863e5ea6d84817b095a7a30336cfd9.jpg
Thư của “quân Giải Phóng” gửi “Ngụy Quân”

Nguyễn Bá Chổi
Nguyễn Bá Chổi vừa nhận được lá thư dưới đây của của một cựu bộ đội cụ Hồ. Nhận thấy nội dung liên quan đến “đại thắng mùa xuân” mà “đảng ta” đang chuẩn bị ăn mừng ngày kỷ niệm lần thứ 39, Chổi xin cho đăng lại nơi đây sau khi được sự đồng ý của tác giả bức thư với điều kiện dấu tên. Tiện thể, người nhận xin gửi nơi đây lời cám ơn đến anh cựu “giải phóng quân” Kách Mạng đã chia sẻ tâm sự phản tỉnh với cựu thù.
Anh Chổi,
Trước hết tôi xin thú thật, nhờ đọc những bài viết của anh suốt mấy năm nay, tôi biết được anh từng là một người lính trong Quân đội Việt Nam Cộng Hòa trước 30 tháng Tư 1975, và tuổi anh với tôi cũng xêm xêm nhau. Tôi viết “xêm xêm” theo kiểu nói người Miền Nam các anh hay dùng để anh hay rằng tôi, một bộ đội cụ Hồ thập thành trước kia nay đã tự giác tự nguyện tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc trên con đường Ngụy-quân hóa và Mỹ-cút hóa.
Ngụy quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều... hiện đại. Mỹ- cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ; còn đồng Hồ thì khỏi nói, như anh thấy tướng Phạm Quý Ngọ vừa rồi nhận hối lộ do Dương Chí Dũng giao nạp tới 1 triệu 510 ngàn đồng Đô, chứ đồng Hồ thì phải vận dụng cơ man nào là bao bố.
Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẩm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ- cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép Pi Bớt Đê (Happy Birth Day), hể mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc Đá Nồ (McDonald), Bơ Gơ Kinh (Burger King), Ken Tơ Ky Phờ Rai Trích Cần (Kentucky Fried Chicken)... con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản... đó Anh.
Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh. Xin anh đừng buồn hay thấy bị xúc phạm khi tôi dùng chữ “Ngụy” trong thư này, lý do giản đơn là, một phần do quen mồm quen mép, một phần khác quan trọng hơn là, nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy... Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng, mà bây giờ nhờ đọc qua loạt bài “Những sự thật không thể chối bỏ” của Đặng Chí Hùng kèm theo những hình ảnh tư liệu dẫn chứng, tôi mới biết được thực sự ai ngụy ai ngay, nhưng đây không phải là nội dung tôi muốn đề cập đến trong thư này.
Thưa anh Chổi, điều tôi muốn đề cập với anh hôm nay là cám ơn các anh đã... thua cuộc chiến tranh mà trước kia chúng tôi hăm hở gọi là “giải phóng Miền Nam”. Thực tế cho thấy đó là “giải phóng Miền Bắc”. Nói thế nghe ra là ”phản động”, nhưng thực chất là vậy. Nếu bác Hồ từng nói “Nước Việt nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” - cứ cho bác Hồ nói đúng đi, mặc dầu theo sách giáo khoa Cách mạng dạy thì Việt Nam ta không chỉ có một mà có tới 53 dân tộc (trong Nam các anh gọi là 53 sắc tộc, xem ra đúng hơn), thì ta cũng có thể nói, nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.
Thực tế đó là gì? Cũng giản đơn và dễ dàng như tòa án Hải Phòng xử phạt tù anh em Đoàn Văn Vươn là nạn nhân, và phạt tù treo đám thủ phạm tép riu, còn đám đầu sỏ chủ mưu thì hoàn toàn vô can, trong vụ cưỡng chế tài sản nhân dân mà chính Thủ tướng kết luận “hoàn toàn trái pháp luật”. Nếu các anh không thua cuộc chiến thì bộ đội cụ Hồ chúng tôi đâu có thu được hàng tỷ khối chiến lợi phẩm mang về làm náo nức nhân dân Miền Bắc, trong đó có cậu bé 13 tuổi quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh sau này là nhà báo Huy Đức ghi lại:
“Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: Mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe; Cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra; Con búp bê nhựa - biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe - buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.
Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh... được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giới văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dày [1], Thép Đã Tôi Thế Đấy [2]... Những chiếc máy Akai, radio cassettes, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.” (Bên Thắng Cuộc).
Còn chính bộ đội cụ Hồ như chiến sĩ gái Dương Thu Hương háo hức bao nhiêu trên đường giải phóng Miền Nam thì sau 30/4/75, khi vào đến Sài Gòn đã... Ta thử đọc trích đoạn cuộc trao đổi giữa cô với nhà báo Đinh Quang Anh Thái (*)
- Đinh Quang Anh Thái: Bà từng viết rằng, ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi các phụ nữ khác trong đoàn quân của bà trầm trồ trước sự trù phú vật chất của miền Nam thì bà ngồi khóc trên lề đường Sài Gòn. Bà có thể nhắc lại tâm trạng của bà lúc đó?
- Dương Thu Hương: (thở dài) Điên rồ thì tôi có nhiều thứ điên rồ. Khóc thì tôi có hai lần khóc.
Lần thứ nhất khi đội quân chiến thắng vào Sài Gòn năm 1975, trong khi tất cà mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì tôi lại khóc. Vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí. Tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy dẫy các phương tiện thông tin như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ. Ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ được nghe đài Hà Nội mà thôi; và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe đài Sơn Mao, tức là đài phát thanh Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng chỉ được nghe loa phóng thanh tập thể; có nghĩa là chỉ được nghe một tiếng nói. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó ở miền Nam người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào, Pháp, Anh, Mỹ... nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ của nền văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lẫn của lịch sử. Đó là bài học đắt giá và nhầm lẫn lớn nhất mà dân tộc Việt Nam phạm phải. ”
Rồi chuyện ông bác sĩ bộ đội cụ Hồ mà anh gặp tại nhà người bạn chiến hữu của anh ở Tân Định ngay sau khi mới giải phóng Sài Gòn trông như người ngoài hành tinh mới đến, cứ ngơ ngơ ngáo ngáo, bảo “có vào đây mới biết đồng bào Miền Bắc ngoài đó quá khốn khổ.
Anh Chổi ơi, vài mẩu chuyện trên đây là của vài ba cá nhân lẻ tẻ nhưng là đại diện cho tâm trạng chung của tuyệt đại bộ phận đoàn quân “đại thắng mùa xuân” ngay sau khi mèo mù vớ được cá rán Miền Nam đó anh. Bây giờ xin tạm thôi những mẩu chuyện cá nhân để nhìn vào tổng thể sờ sờ trước mắt.
Giá như ngày đó Mỹ không chịu cút, Ngụy không chịu nhào và các anh cứ tiếp tục giữ vững Miền Nam với chế độ Tư Bản một mình thì chúng tôi, tức Miền Bắc, cứ vẫn xếp hàng cả ngày và chỉ được tiêu chuẩn “mỗi năm ba tấc vải thô, lấy gì che kín cụ Hồ em ơi”, Ba Ếch cứ tiếp tục trốn chui trốn nhủi trong rừng tràm U Minh, đêm du kích ngày chích mông, chứ làm gì có nhà thờ họ hoành tráng lừng lựng giữa Rạch Giá như bây giờ. Nói chung không nhờ Miền Nam các anh thua thì làm gì chúng tôi được nếm mùi bã Tư bản để được như ngày nay. Không nhờ các anh bỏ của chạy lấy người thì của đâu cho Cách Mạng lấy làm giàu như bây giờ. Không nhờ các anh thua cuộc thì ngày nay chắc chắn Miền Bắc chúng tôi còn tệ hơn nước anh em XHCN Bắc Triều Tiên của cậu Giun Kim Ủn bây giờ.
Nói túm lại, kỷ niệm ngày 30 tháng Tư 75 là để mừng cho Miền Bắc chúng tôi được giải phóng, chứ Miền Nam các anh thì bị một vố phỏng... nhớ đời này qua đời khác. Nhưng ở đời này, anh còn lạ gì, khốn nạn của người này có khi là hạnh phúc của người kia. Thôi thì Miền Nam các anh đã hưởng lâu rồi, nhiều rồi, nhường cho đồng bào Miền Bắc chúng tôi được giải phóng một ti, cho công bằng.
Cảm ơn anh đã đọc hết thư này của một người cựu thù cùng máu đỏ da vàng, cùng quê hương “ông bác” mà ngày nay mỗi lần nghe nhắc đến là tôi muốn độn thổ vì xấu hổ.
Trân trọng chào Anh,
Một cựu bộ đội cụ Hồ trong đoàn “giải phóng quân” 1975.
TB. Tôi bị “Ngụy hóa” đến nỗi văn phong của tôi cũng bị... Chổi hóa luôn!
Sài Gòn năm thứ 39 ngày Giải phóng Miền Bắc.

Nguyễn Bá Chổi