Friday, April 15, 2016
Wednesday, April 13, 2016
Viết về Hồ Chí Minh
Viết về Hồ Chí Minh
Nguyễn Hữu Tư 14909 (#Danlambao)
- Khi viết về Hồ Chí Minh, các tác giả Việt Nam và ngoại quốc thường bị sập bẫy (bị lừa) của Cộng sản Quốc tế và Cục Tình báo Hoa Nam là đồng hóa Hồ Chí Minh (1942), một người Tầu với Nguyễn Tất Thành (1911), về sau đổi tên là Nguyễn Ái Quốc (1914), một người Việt Nam.
Theo tài liệu của cộng sản Việt Nam thì Hồ Chí Minh xuất hiện từ năm 1942 đến năm 1969, chết vì bệnh tim, còn Nguyễn Tất Thành xuất hiện năm 1911, sau đổi tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện từ năm 1914 đến năm 1932. Như vậy Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao năm 1932 (Tình báo KGB xác định Nguyễn Ái Quốc (Нгуен Ай Куок), đã qua đời năm 1932, tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932), hài cốt được chôn cất tại nghĩa trang Kuntsevo, Moscow).
Và mười năm sau, Hồ Chí Minh mới xuất hiện (1942) và chết vì bệnh tim năm 1969.
Có thể nào: một người trẻ 40 tuổi bị bệnh lao nặng, ho ra máu, (lúc đó chưa phát minh ra trụ sinh để chữa bệnh lao) mà về già 79 tuổi lại chết vì bệnh tim chăng?
Nguồn: Bút hiệu của Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc
Trong Hồ Chí Minh Toàn tập là bút tích của mình, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc" (Thư gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản).
Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 8-9.
Trong thư Từ Trung Quốc, Số 1, vào vai một nữ đảng viên Quốc Dân đảng, tên Loo Shing Yan, Hồ Chí Minh viết: "Các đồng chí biết rằng, nước tôi, Trung quốc, bị kềm kẹp tàn nhẫn..."
Nguồn Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 6-7.
Với bút danh Trần Thắng Lợi trong bài Đảng ta, Hồ Chí Minh Toàn tập, trang 1015-1016, Hồ Chí Minh viết: "Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi,..." chứng tỏ Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc là hai người khác nhau.
Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, trang 1015-1016.
Xem thêm ở đây: Tìm tòi và lượm lặt: AI CHẾT VÌ BỆNH LAO TRONG TÙ VÀO CUỐI NĂM 1932
Nhiều bạn đọc thắc mắc: không thấy lá đơn xin học Trường Thuộc địa thuộc Chính phủ bảo hộ Pháp của Nguyễn Tất Thành in trong Hồ Chí Minh Toàn tập? Xin thưa vì Nguyễn Tất Thành (về sau lấy tên Nguyễn Ái Quốc) không phải là Hồ Chí Minh!
Nguồn: Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một 'thông báo' về nước?
Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh, tiểu sử Hồ Chí Minh được ghi như sau:
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.
(http://www.baotanghochiminh.vn/tabid/464/Default.aspx)
Đây là lối viết áp đặt ngay từ tiền đề: Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và là Nguyễn Ái Quốc mặc dù trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 8-9, chính Hồ Chí Minh xác nhận; "Tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc".
Một chứng cớ nữa chứng tỏ Hồ Chí Minh không có liên hệ máu thịt gì với dòng họ Nguyễn Sinh ở Kim liên, Nam đàn, Nghệ an, Việt nam.
"121. Chí Minh, 1950.
Ngày 9 tháng 11, 1950 khi nghe tin người anh là Nguyễn Sinh Khiêm mất, Hồ Chí Minh viết một điện thư chia buồn dòng họ Nguyễn Sinh. Cuối điện thư, ký tên Chí Minh."
Nguồn: Những bí danh và bút danh Hồ Chí Minh
Nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung/Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc, khi được tin ông anh cả Nguyễn Sinh Khiêm mất thì theo phong tục Việt nam, Nguyễn Sinh Cung/Hồ Chí Minh phải về quê ở xã Kim Liên, huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ an để chịu tang ông anh cả chứ sao lại gửi điện chia buồn với dòng họ Nguyễn Sinh? Điều đó chứng tỏ Hồ Chí Minh chỉ mượn tạm cái tên Nguyễn Sinh Cung chứ không có liên hệ máu mủ gì với ông anh trưởng Nguyễn Sinh Khiêm cả.Thật thế, "cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra"!
Nguyễn Hữu Tư 14909
danlambaovn.blogspot.com
http://danlambaovn.blogspot.com/…/…/viet-ve-ho-chi-minh.html
Nguyễn Hữu Tư 14909 (#Danlambao)
- Khi viết về Hồ Chí Minh, các tác giả Việt Nam và ngoại quốc thường bị sập bẫy (bị lừa) của Cộng sản Quốc tế và Cục Tình báo Hoa Nam là đồng hóa Hồ Chí Minh (1942), một người Tầu với Nguyễn Tất Thành (1911), về sau đổi tên là Nguyễn Ái Quốc (1914), một người Việt Nam.
Theo tài liệu của cộng sản Việt Nam thì Hồ Chí Minh xuất hiện từ năm 1942 đến năm 1969, chết vì bệnh tim, còn Nguyễn Tất Thành xuất hiện năm 1911, sau đổi tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện từ năm 1914 đến năm 1932. Như vậy Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao năm 1932 (Tình báo KGB xác định Nguyễn Ái Quốc (Нгуен Ай Куок), đã qua đời năm 1932, tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932), hài cốt được chôn cất tại nghĩa trang Kuntsevo, Moscow).
Và mười năm sau, Hồ Chí Minh mới xuất hiện (1942) và chết vì bệnh tim năm 1969.
Có thể nào: một người trẻ 40 tuổi bị bệnh lao nặng, ho ra máu, (lúc đó chưa phát minh ra trụ sinh để chữa bệnh lao) mà về già 79 tuổi lại chết vì bệnh tim chăng?
Nguồn: Bút hiệu của Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc
Trong Hồ Chí Minh Toàn tập là bút tích của mình, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc" (Thư gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản).
Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 8-9.
Trong thư Từ Trung Quốc, Số 1, vào vai một nữ đảng viên Quốc Dân đảng, tên Loo Shing Yan, Hồ Chí Minh viết: "Các đồng chí biết rằng, nước tôi, Trung quốc, bị kềm kẹp tàn nhẫn..."
Nguồn Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 6-7.
Với bút danh Trần Thắng Lợi trong bài Đảng ta, Hồ Chí Minh Toàn tập, trang 1015-1016, Hồ Chí Minh viết: "Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi,..." chứng tỏ Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc là hai người khác nhau.
Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, trang 1015-1016.
Xem thêm ở đây: Tìm tòi và lượm lặt: AI CHẾT VÌ BỆNH LAO TRONG TÙ VÀO CUỐI NĂM 1932
Nhiều bạn đọc thắc mắc: không thấy lá đơn xin học Trường Thuộc địa thuộc Chính phủ bảo hộ Pháp của Nguyễn Tất Thành in trong Hồ Chí Minh Toàn tập? Xin thưa vì Nguyễn Tất Thành (về sau lấy tên Nguyễn Ái Quốc) không phải là Hồ Chí Minh!
Nguồn: Nguyễn Tất Thành làm đơn xin vào học trường Thuộc địa là một 'thông báo' về nước?
Trong Bảo tàng Hồ Chí Minh, tiểu sử Hồ Chí Minh được ghi như sau:
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.
(http://www.baotanghochiminh.vn/tabid/464/Default.aspx)
Đây là lối viết áp đặt ngay từ tiền đề: Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành và là Nguyễn Ái Quốc mặc dù trong Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, trang 8-9, chính Hồ Chí Minh xác nhận; "Tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc".
Một chứng cớ nữa chứng tỏ Hồ Chí Minh không có liên hệ máu thịt gì với dòng họ Nguyễn Sinh ở Kim liên, Nam đàn, Nghệ an, Việt nam.
"121. Chí Minh, 1950.
Ngày 9 tháng 11, 1950 khi nghe tin người anh là Nguyễn Sinh Khiêm mất, Hồ Chí Minh viết một điện thư chia buồn dòng họ Nguyễn Sinh. Cuối điện thư, ký tên Chí Minh."
Nguồn: Những bí danh và bút danh Hồ Chí Minh
Nếu Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung/Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc, khi được tin ông anh cả Nguyễn Sinh Khiêm mất thì theo phong tục Việt nam, Nguyễn Sinh Cung/Hồ Chí Minh phải về quê ở xã Kim Liên, huyện Nam đàn, tỉnh Nghệ an để chịu tang ông anh cả chứ sao lại gửi điện chia buồn với dòng họ Nguyễn Sinh? Điều đó chứng tỏ Hồ Chí Minh chỉ mượn tạm cái tên Nguyễn Sinh Cung chứ không có liên hệ máu mủ gì với ông anh trưởng Nguyễn Sinh Khiêm cả.Thật thế, "cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra"!
Nguyễn Hữu Tư 14909
danlambaovn.blogspot.com
http://danlambaovn.blogspot.com/…/…/viet-ve-ho-chi-minh.html
Monday, April 11, 2016
Hồ Chí Minh có nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc? (Phần IV)
Hồ Chí Minh có nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc? (Phần IV)
Le Nguyen (Danlambao) -
Trước khi học giả Hồ Tuấn Hùng nêu giả thuyết Hồ Chí Minh là Hồ Tập
Chương nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc, các sử gia người Việt, người
ngoại quốc, người quốc gia, người cộng sản đều xoay quanh, chú ý đến
cuộc đời hoạt động của nhân vật bí ẩn đeo mạng che mặt như dân Hồi giáo,
mang bí danh Hồ Chí Minh - chủ tịch suốt đời của nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa. Phe cộng sản thì hư cấu tạo hào quang huyền bí, thần thánh cho
Hồ Chí Minh. Phe quốc gia thì ra sức lột mạng che mặt, vạch trần dối
trá, chỉ ra những điều bịa đặt của bộ máy tuyên truyền cộng sản, của
chính Hồ vẽ vời mình như một cá nhân siêu phàm xuất chúng!
Đến khi cuốn sách nghiên cứu “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” ra mắt
bạn đọc tiếng Trung, được dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức...
và tiếng Việt thì các sử gia, các nhà “Hồ Chí Minh học” bắt đầu soi rọi
vào nhiều góc cạnh chưa được chạm đến, để xem giả thuyết Hồ Chí Minh là
người nhập vai đóng thế có khả năng xảy ra hay giả thuyết đó là hoang
đường, nhảm nhí không thể xảy ra được?
Rất lý thú, chỉ trong khoảng thời gian rất ngắn người ta đã tìm thấy một
số điểm nghi ngờ về nghi án đóng thế khá thuyết phục như: Chiều cao của
Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) với chiều cao Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương?)
sai biệt gần một tấc; Chữ viết của Hồ Chí Minh (Nguyễn Tất Thành) xin
vào học trường thuộc địa École Coloniale để ra làm quan cho Pháp, khác
với chữ viết của Hồ Chí Minh (chủ tịch nước) viết di chúc; Cách ăn mặc
của Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc) đồ tây tươm tất sạch sẽ so với cách
luộm thuộm dơ dáy với đồ đại cán Tàu của Hồ Chí Minh (chủ tịch nước) và
chưa ai thấy qua Hồ chủ tịch một đời vì dân, vì nước mặc quốc phục Việt
Nam?...
Phải xác định rằng chiều cao của con người đến 25 tuổi là không thể cao
hơn nữa, cũng như chữ viết của người trưởng thành đã định hình thì chính
tả ngày càng hoàn thiện, nét chữ ngày càng cứng cỏi bay bướm hơn, cho
dù có viết dối người ta cũng có thể nhận ra và thói quen ăn mặc đã thành
nếp thì khi điều kiện cho phép, khi trở lại môi trường sống của thời
tuổi trẻ của mình thì chuyện thay đổi cách ăn mặc theo kiểu Tàu, dù có
lý giải kiểu nào đi chăng nữa vẫn không hợp lý, vẫn không nghe xuôi
tai.
Hồ Chí Minh (Nguyễn Tất Thành) được loa đài tuyên giáo giới thiệu là học
chữ nho từ bé nên tinh thông Hán học có thể làm thơ bằng chữ Tàu và lúc
ở tù cho ra đời “Ngục Trung Nhật ký”, làm cho nhiều người ngạc
nhiên lẫn thán phục tài làm thơ tiếng Tàu trên trời rơi xuống. Do đó có
nhiều người đi sâu vào phân tích, tìm hiểu, người ta đã thấy có nhiều
mâu thuẫn bất hợp lý từ hình thức lẫn nội dung của tập thơ Ngục Trung Nhật ký” của Hồ Chí Minh như:
Một là tập thơ do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ở Hà Nội in năm 2003 theo bản gốc có ảnh chụp nơi trang bìa, ghi bốn chữ Hán, “Ngục Trung Nhật Ký”, ở ngay bên dưới dòng chữ, có hai dòng niên biểu, là dòng đời của cuốn sách là 29.8.1932 và 10.9.1933.
Hai là ngày 14/ 09/1955 Hồ Chí Minh (Hồ chủ tịch) đến phố Bích Câu, Hà
Nội duyệt nội dung triển lãm về cải cách ruộng đất đưa cho Nguyễn Việt,
trưởng ban tổ chức cuộc triển lãm, bản thảo tập thơ nói: “...Bác có cuốn sách này, chú xem có sử dụng được hay không?...” Vậy mấy mươi năm trốn chui trốn nhủi, rày đây mai đó cuốn thơ này nằm ở đâu, ai giữ hộ cho Hồ?
Ba là nội dung của tập thơ “Ngục Trung Nhật ký”có nhiều điểm không phù hợp với thân phận, khả năng Hán học của Hồ Chí Minh (Nguyễn Ái Quốc). Cụ thể là bài “Khán Thiên Gia Thi Hữu Cảm”
diễn tả tâm trạng, cảm xúc của một người tình cờ nhìn thấy quyển sách
giáo khoa, sách vỡ lòng thời thơ ấu và Nguyễn Tất Thành có kỷ niệm gì
với Thiên Gia Thi để có đủ biểu cảm, chất liệu để “xuất khẩu thành
thơ”...
Ảnh bìa nguyên bản của Nhật Ký Trong Tù.
Nhiều bằng chứng chỉ ra cho thấy Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái
Quốc nhưng tất cả dấu hiệu trưng ra chưa đủ yếu tố kết luận Hồ Chí Minh
là Hồ Tập Chương. Những dấu hiệu Hồ giả trưng ra chỉ đủ nghi ngờ là Hồ
Chí Minh là người nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc.
Để chứng minh Hồ Chí Minh không phải là người Việt, điều tiên quyết là
cần phải có thêm nhiều bằng chứng thuyết phục, chỉ ra Hồ không phải là
người Việt, là người “lạ” đóng thế Nguyễn Ái Quốc diễn vai người Việt
Nam yêu nước. Chính vì nhập vai chưa thật sự hoàn hảo nên lúc diễn có
nhiều khiên cưỡng để lộ ra Hồ chỉ là tên nhập vai đóng thế. Cụ thể là
khi đóng vai người yêu nước Việt Nam, Hồ không có trái tim Việt Nam nên
không tiếc máu xương Việt Nam, Hồ không ngần ngại hô hào, xúi giục dân
tộc Việt Nam đốt cả dãi Trường Sơn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng.
Hồ không có trái tim Việt Nam, tư tưởng Việt Nam nên để lộ tư tưởng Tàu
qua câu khẩu hiệu “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người.”
Hồ không chỉ hô khẩu hiệu mang tư tưởng Tàu nhập Việt mà còn thực hiện
kế hoạch trăm năm trồng người làm lực lượng hậu bị nồng cốt cho ý đồ xâm
lăng Việt Nam bằng các tên hồn Hoa da Việt đã và đang hiện nguyên hình
trong lớp lãnh đạo đương quyền đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam hiện
nay. Bên cạnh kế hoạch trồng người phục vụ mẫu quốc Tàu, Hồ cấy vào đầu
thiếu nhi Việt Nam những điều dối trá và xua dân vào chảo lửa chiến,
tiêu diệt tuổi trẻ Việt Nam với các danh hiệu anh hùng kháng Pháp, dũng
sĩ diệt Mỹ... qua các bức thư hằng năm gửi các cháu thiếu nhi nhân ngày
Quốc Tế Thiếu Nhi 01/06 của các nước xã hội chủ nghĩa, bắt đầu từ năm
1950 đến 1969 là năm Hồ trao trả chức chủ tịch nước đi chầu cụ tổ Mác-Lê
của Hồ.
Tính từ năm 1950 đến năm 1969 có hai mươi bức thư của hồ gửi cho các
cháu thiếu nhi và nội dung các bức thư chỉ có các chữ xáo trộn vị trí
chứ không khác nhau nhiều về ý nghĩa. Cách viết thư của Hồ gửi các cháu
thiếu nhi, nó cũng giống như cung cách Hồ làm thơ chúc Tết Nguyên Đán
hàng năm, chỉ có một số từ ngữ xốc tới xốc lui.
Dưới đây là hai bức thư tiêu biểu của Hồ, gửi thiếu nhi trong sự kiện
ngày thiếu nhi quốc tế. Một bức thư đầu gửi thiếu nhi năm 1950 và bức
thư cuối cùng năm 1969 cũng là năm kết thúc cuộc đời của nhân vật mang
bí danh Hồ Chí Minh:
1) Thư gửi thiếu nhi toàn quốc nhân Ngày 1-6.
Đáng lẽ tất cả các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên Xô.
Song ở các nước tư bản, cha mẹ là người lao động bị bóc lột, thì trẻ con cũng bị bóc lột, phải chịu cực khổ.
Ví dụ: Mỹ là một nước nhiều tiền bạc nhất, có những nhà đại phú, ngồi
mát ăn bát vàng. Nhưng con nhà lao động thì lên 5, lên 6 tuổi đã phải
đi làm thuê, làm mướn.
Ở nước Việt Nam ta thì, vì giặc Pháp gây ra chiến tranh, chúng nó đốt
nhà, giết người, cướp của. Vì vậy, người lớn phải kháng chiến, trẻ con
cũng phải kháng chiến.
Bác thương các cháu lắm. Bác hứa với các cháu rằng: Đến ngày đánh
đuổi hết giặc Pháp, kháng chiến thành công, thì Bác cùng Chính phủ và
các đoàn thể cùng cố gắng làm cho các cháu cùng được no ấm, đều được vui
chơi, đều được học hành, đều được sung sướng...
Bác mong các cháu ngoan ngoãn. Bác chúc các cháu mạnh khỏe. Bác gửi các cháu nhiều cái hôn.
Bác Hồ.
(Báo Sự Thật, số 134 ra ngày 1-6-1950.)
2) Nâng cao trách nhiệm chăm sóc và giáo dục thiếu niên, nhi đồng.
Nói chung trẻ con ta là rất tốt.
Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hăng hái giúp đỡ bộ đội,
giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du kích…
Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ.
Ở miền Bắc, các cháu đều hăng hái thi đua làm “nghìn việc tốt” như
giúp đỡ gia đình bộ đội, trả lại của rơi, gan góc liều mình cứu bạn…
Ở nông thôn, thì nhiều nơi các cháu tổ chức giúp các hợp tác xã chăm
sóc trâu bò béo khỏe, trồng cây và bảo vệ cây xanh tốt. Các cháu sơ tán
xã gia đình vẫn cố gắng vượt mọi khó khăn, kính thầy, yêu bạn, đoàn kết
với đồng bào địa phương và thi đua học tập tốt, lao động tốt. Nhiều cháu
học giỏi, tất cả các môn đều đạt điểm 5, điểm 10 đã được giải thưởng
của Bác Hồ.
Hàng trăm cháu có thành tích xuất sắc đã được Bác Hồ thưởng Huy Hiệu. Hơn hai triệu cháu được bình bầu là Cháu ngoan Bác Hồ.
Nhân dân ta rất tự hào có nhiều con cháu tiến bộ như thế. Mong các cháu ngày càng cố gắng hơn nữa và tiến bộ hơn nữa.
Song vẫn còn một số ít cháu chậm tiến vì chưa được chăm sóc, dạy dỗ đến nơi đến chốn.
Thiếu niên, nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà. Vì vậy,
chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân.
Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ. Trong thời gian tới và trong dịp
hè này, cần phải đẩy mạnh công tác thiếu niên, nhi đồng đạt nhiều kết
quả tốt và thiết thực.
Trước hết các gia đình (tức ông, bà, cha mẹ, anh chị) phải làm thật
tốt công việc ấy. Các đảng ủy, đường phố và hợp tác xã phải phụ trách
chỉ đạo thiết thực và thường xuyên. Ủy ban Thiếu niên nhi đồng, đoàn
thanh niên, ngành giáo dục và các ngành, các đoàn thể cần phải có kế
hoạch cụ thể chăm sóc, giáo dục các cháu ngày càng mạnh khỏe và tiến bộ.
Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải có kế hoạch chăm sóc, giáo dục các cháu
càng ngày mạnh khỏe và tiến bộ. Các tỉnh ủy, thành ủy cần phải phụ trách
đôn đốc việc này cho có kết quả tốt.
Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt.
(Báo Nhân Dân số 5526, ngày 1-6-1969.)
Hai bức thư ngắn của Hồ Chí Minh gửi các cháu nhân ngày thiếu nhi quốc
tế chỉ ra cho mọi người thấy ngoài mục tiêu tuyên truyền, Hồ còn chỉ ra
nhiều điều dối trá đáng hổ thẹn của một cá nhân tự xưng mình là cha già
dân tộc mà mở mồm nói láo với cháu thiếu nhi như: “...Đáng lẽ tất cả
các cháu đều được no ấm, được vui chơi, được học hành như trẻ con ở Liên
Xô... Mỹ là một nước nhiều tiền bậc nhất, có những nhà đại phú, ngồi
mát ăn bát vàng. Nhưng con nhà lao động thì lên 5, lên 6 tuổi đã phải đi
làm thuê, làm mướn... Ở nước Việt Nam ta thì, vì giặc Pháp gây ra chiến
tranh, chúng nó đốt nhà, giết người, cướp của...”
Không dừng lại ở điểm nói láo với các cháu thiếu nhi, Hồ còn thể hiện
bản chất man rợ không hề thua kém các thủ lãnh IS thời nay rất ghê tởm
qua câu: “...Ở miền Nam, các cháu bé rất dũng cảm, đã hăng hái giúp
đỡ bộ đội, giúp đỡ gia đình có người kháng chiến, làm giao liên, đánh du
kích… Nhiều cháu mới hơn 10 tuổi đã trở thành dũng sĩ diệt Mỹ...”
Một lãnh tụ làm điều mờ ám xằng bậy, cứ nghĩ cách nói láo, bày trò uốn
nắn, dụ dỗ trẻ em vào cuộc chém giết với các miếng mồi “huy hiệu” anh
hùng, dũng sĩ và ra tay tiêu diệt tinh hoa dân tộc, chắc hẳn phải có vấn
đề. Hồ Chí Minh là một người như thế, một người rất nhiều bằng chứng
cho thấy rất có khả năng không phải người Việt nhập vai đóng thế Nguyễn
Ái Quốc nên mới có thể độc ác, lạnh lùng với dân tộc Việt Nam, phá tan
hoang đất nước Việt Nam như Hồ đã làm.
11.04.2016
______________________________________
Các phần đã đăng:
Hồ Chí Minh có nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc (Phần III)
Hồ Chí Minh có nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc (Phần III)
Le Nguyen (Danlambao)
- Phản bác luận điểm Hồ Tập Chương nhập vai Hồ Chí Minh đóng thế Nguyễn
Ái Quốc của ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên, và những bồi bút hạng bét với
văn ngôn đấu tố như các ông đội trong thời cải cách ruộng đất. Những
ông đội DLV vừa dốt vừa ngu nhưng không hề biết mình ngu dốt mà gán ghép
dốt ngu cho những người chỉ ra những điểm bất thường, ngập tràn sắc
thái thần bí đến độ hàm hồ, nhảm nhí của nhân vật tăm tiếng nhiều tai
tiếng Hồ Chí Minh. Cụ thể khi người ta đặt nghi vấn tại sao Hồ lấy bút
danh Trần Dân Tiên viết sách ca tụng gọi là bác Hồ mà không gọi là bác
Minh? Cũng như tại sao Hồ mở mồm ra là nói kiêng khem đàn bà để toàn tâm
toàn ý phục vụ dân tộc đất nước Việt Nam nhưng trên cương vị làm chủ
tịch nước cho đến chết không ai thấy Hồ mặc quốc phục và đến lúc chết
lại đòi nghe nhạc Tàu?...
Những điểm vừa kể chỉ là nghi vấn để mọi người chú ý, tìm hiểu nguồn gốc
Hồ đích thực là ai trong nhiều điểm bất thường khác của Hồ như: cầm bút
máy viết chữ Latin như cầm bút lông vẽ chữ Tàu? Chiều cao của Hồ Chí
Minh lúc hoạt động ở Pháp, ở Nga, ở Tàu cho đến thời điểm năm 1932 là
cao chừng 1,62m nhưng đến khi làm chủ tịch nước lại nhổ giò cao đến tầm
1,70m? Hồ được ca là thông thạo 29 thứ tiếng, là nhà văn hóa đại tài,
viết hàng ngàn bài văn, bài thơ, bài báo mà viết di chúc phải mất gần 5
năm lại sai chính tả, gạch xóa sửa chữa như em bé tập làm văn?...
![]() |
Ông Hồ cầm bút lông vẽ tên hay ký tên?
|
Những điểm nghi ngờ, so sánh Nguyễn Ái Quốc với Hồ Chí Minh, tương đối
tương đồng với luận điểm, lý chứng Hồ-Quốc là hai người khác nhau như
lập luận trong cuốn “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” của Học giả Hồ Tuấn
Hùng. Những khác biệt kể trên khá thuyết phục nhưng vẫn có một số cháu
ngoan mù đảng, cuồng Hồ phùng mang trợn mắt văng tục như các ông đội
thời cải cách của Hồ, như hồng vệ binh thời trăm hoa đua nở của Mao đối
với ai đặt vấn đề, đưa ra dấu hiệu khả nghi là Hồ giả.
Một số nghi vấn đặt ra là tại sao Hồ Chí Minh không xưng là bác Minh mà
xưng là bác Hồ? Tại sao bác cầm bút máy giống cầm bút lông vẽ chữ Tàu?
Suốt đời làm chủ tịch chỉ có ăn mặc theo kiểu truyền thống Tàu? Bản văn
di chúc dù gạch xóa nát nước gần 5 năm vẫn không che được văn ngôn của
một người ngoại quốc viết tiếng Việt?... Tất cả dấu hiệu của Hồ thể hiện
ra bên ngoài rất có khả năng Hồ không phải là người Việt nhưng các tên
bồi bút, trí nô hạng bét cố lý luận, diễn giải theo cách công nông cộng
sản như: “Sở dĩ như thế là vì bác đi nhiều... bác đi Tây đi Tàu, sống
ở Tây Tàu lâu năm nên “nhiễm” văn hóa Tây Tàu, “nhiễm” cách ứng xử, ăn
mặc, viết lách và kể cả việc gọi họ thay tên như các ông lãnh đạo các
nước Nga, Tàu, Anh, Pháp, Mỹ, Úc chỉ gọi họ chứ không kêu tên...” Rồi hùng hổ văng tục, mắng ngu cho những ai thắc mắc với các hành tung khác thường của Hồ Chí Minh!
Riêng về về chuyện Hồ Chí Minh tạng người tương đối thấp bé cao chừng
1,62m lúc trẻ, tự dưng về già nhổ giò cao tầm 1,70m được những tên cuồng
Hồ bảo là báo lề dân bịa đặt về chiều cao để nói xấu bác, nói xấu đảng,
thậm chí là nói xấu đất nước, nói xấu dân tộc! Những đứa cuồng Hồ khác
thì cắt nghĩa đùi. “Trông thấy bác cao là do góc độ máy ảnh, do vị
trí bác đứng chụp ảnh, cụ thể hơn là do bác đứng ở vị trí cao, đứng trên
bậc tam cấp so với những người đứng chụp hình chung với bác!”(sic)
Phạm Văn Đồng cao 1,75m, Nguyễn Ái Quốc cao chừng 1,62m. Ông Hồ này là
ai mà có chiều cao không thua kém bao nhiêu so với ông PVĐ?
Thật ra phản bác của các đứa cháu ngoan loại này nhằm chữa cháy cho
“nghi án” Hồ giả chỉ giúp cho đám mù đảng, cuồng Hồ giữ vững niềm tin
tưởng mù quáng vào bác Hồ kính yêu của chúng không có ai nhập vai đóng
thế chứ không ảnh hưởng tới những người Việt Nam không cộng sản về giả
thuyết Hồ giả Nguyễn Ái Quốc là có thật.
Ngoài phản bác của ông Bùi Tín, Vũ Thư Hiên và đám mù đảng cuồng Hồ nói
nhảm, tán linh tinh lang tang dưới tầm trí tuệ như vừa kể. Còn có các
bài phản biện của hai ông Nguyễn Duy Chính, Phạm Đình Lân tương đối
nghiêm chỉnh, có vẻ bài bản khoa học.
Bài phản biện của Nguyễn Duy Chính có tựa đề “Nhận Xét Về Cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”
khá nhiều chữ nhưng không chuyên chở nhiều nghĩa và không thoát ra khỏi
cái khung phản biện của ông Bùi Tín mang nội dung chính yếu như sau:
“...Thực ra, chi tiết nhân vật Nguyễn Ái Quốc chết từ năm 1932 rồi
còn sống quay trở lại chính trường đã được nhiều người nhắc đến, chính
mật thám Pháp đã đối chiếu rất kỹ về nhân dạng, về hành tung khi ông
xuất hiện dưới cái tên mới là Hồ Chí Minh năm 1945. Việc phủ nhận toàn
bộ những sưu tra của Nha Liêm Phóng Pháp về thân thế của ông Hồ không
phải dễ.
Trong suốt quyển sách, rất tiếc tác giả không đưa ra được một chứng
cớ cụ thể nào để chứng minh giả thuyết ông Hồ Chí Minh sau này chỉ là
một người Trung Hoa được ngụy trang.
Tối thiểu tác giả cũng phải trưng ra một số hình ảnh của ông Hồ Tập
Chương hồi trẻ để chúng ta so sánh với ông Hồ Chí Minh sau này nếu muốn
tin rằng đó chỉ là một người, ngược lại ông chỉ sao chụp những hình ảnh
trong các sách vở mà hầu hết chúng ta quen thuộc.
Trong suốt cuộc đời chính trị, Hồ Chí Minh dùng đến mấy chục tên khác
nhau và hàng loạt nghề nghiệp, kể cả đóng vai chồng hờ trong những
trường hợp đặc biệt để che dấu hành tung. Tuy hóa trang giỏi nhưng có lẽ
cho đến ngày nay khó có ai có thể đóng giả một vai trong nhiều năm mà
tình báo quốc tế cũng như người đối lập với ông không biết...
...Chính vì không có được những chứng cớ cụ thể hơn để củng cố cái
“tin đồn của ông bán thịt lợn”, Hồ Tuấn Hùng dùng phương pháp lý luận
dựa trên những tài liệu về cuộc đời Hồ Chí Minh để chứng minh rằng Hồ
Chí Minh sau này là một người Trung Hoa, không phải người Việt.
Ông cũng không đưa ra được một chi tiết nào khả tín khi khẳng định
rằng hai đảng Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam đã đồng tình thực hiện âm
mưu này mà Liên Xô không hay biết...”
Luận điểm của Nguyễn Duy Chính phản bác giả thuyết Hồ Tập Chương nhập
vai Hồ Chí Minh đóng thế Nguyễn Ái Quốc của Hồ Tuấn Hùng thực sự không
thuyết phục hơn lý luận phản biện của ông Bùi Tín. Bài viết của Nguyễn
Duy Chính chỉ khác ở văn ngôn chứ nội dung độ chừng có 10% cố cắm vào
phê phán tiểu tiết thúc đẩy ông Hồ Tuấn Hùng bắt tay vào việc tìm kiếm,
nghiên cứu sự thật Hồ Chí Minh ở câu “tin đồn của ông bán thịt lợn”,
không thuyết phục hơn luận chứng, lý chứng, bằng chứng, tài liệu của Hồ
Tuấn Hùng chứng minh Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương đóng thế Nguyễn Ái
Quốc chết ở trong tù năm 1932.
Công tâm mà nói, những ai đọc sách Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo đều nhận ra câu “...Tin đồn của ông bán thịt lợn... tin đồn của ông thương gia Đài Loan...”
không phải là cơ sở khoa học để ông Hồ Tuấn Hùng nghiên cứu trình bày
luận chứng, dẫn chứng tài liệu chứng minh Hồ giả trong tập sách Hồ Chí
Minh Sinh Bình khảo. Tin đồn của ông bán thịt lợn, của ông thương gia
Đài Loan trong phần dẫn nhập cho đề tài nghiên cứu của ông Hồ Tuấn Hùng,
chỉ là động lực để ông cất công đi tìm sự thật lịch sử đã bị sử gia
cộng sản bôi đen, bóp méo để không ai nhận ra có tình báo cộng sản quốc
tế nhập vai Nguyễn Ái Quốc.
Ông Nguyễn Duy Chính phản bác phê phán tập sách Hồ Chí Minh với giọng
văn dè bỉu, mỉa mai chê bai dù rằng ông biết để thực hiện tác phẩm, Hồ
Tuấn Hùng sử dụng chủ yếu các tài liệu viết bằng tiếng Anh, Hoa, Nhật
cùng với một số tài liệu của đảng, nhà nước csVN xuất bản ở trong nước
VN. Còn ông Nguyễn Duy Chinh chẳng có nguồn tài liệu nào khả tín để hổ
trợ cho luận điểm chống lại giả thuyết Hồ Chí Minh nhập vai Hồ Chí Minh
đóng thế Nguyễn Ái Quốc, ngoài lý lẽ hơi cảm tính kém thuyết phục rằng
thì là...
“...Chính mật thám Pháp đã đối chiếu rất kỹ về nhân dạng, về hành
tung khi ông xuất hiện dưới cái tên mới là Hồ Chí Minh năm 1945. Việc
phủ nhận toàn bộ những sưu tra của Nha Liêm Phóng Pháp về thân thế của
ông Hồ không phải dễ... Hồ Chí Minh dùng đến mấy chục tên khác nhau và
hàng loạt nghề nghiệp, kể cả đóng vai chồng hờ trong những trường hợp
đặc biệt để che dấu hành tung. Tuy hóa trang giỏi nhưng có lẽ cho đến
ngày nay khó có ai có thể đóng giả một vai trong nhiều năm mà tình báo
quốc tế cũng như người đối lập với ông không biết...”
Những luận điểm của ông Nguyễn Duy Chính như vừa nêu có nhiều chữ hơn
phản bác Hồ giả của ông Bùi Tín nhưng không hề thuyết phục hơn lập luận
của ông Bùi Tín.
Về bài phản biện “Hồ Chí Minh: Người Việt Hay Người Tàu?” của
Phạm Đình Lân nội dung giống với lý luận của ông Vũ Thư Hiên nhưng giọng
văn có nhẹ nhàng êm ái hơn và lý lẽ phản bác của Phạm Đình Lân chỉ nhằm
vào mục đích kiên quyết phủ nhận bất cứ bằng chứng nào nghi ngờ Hồ giả,
kể cả giả vờ lớn tiếng tố cáo tội ác, lầm lỗi của Hồ để cho người đọc
tin là Hồ giả là chuyện tầm phào như kết luận của Vũ Thư Hiên.
Kết luận phản bác Hồ Chí Minh đóng thế Nguyễn Ái Quốc của Phạm Đình Lân có nội dung như sau:
“...Có thể tôi sai lầm vì không tin có một Hồ Tập Chương đóng kịch
giả Hồ Chí Minh gần 40 năm dài. Lý trí tầm thường của tôi cho thấy một
nước lớn, giàu, mạnh chinh phục một quốc gia nhỏ bé bằng nhiều cách, kể
cả những chuyện cường điệu hoang đường. Theo sự mô tả Hồ Tập Chương là
một người siêu phàm, nhưng siêu phàm cách mấy ông cũng thất bại vì không
ai biến GIẢ thành THẬT và biến THẬT thành GIẢ gần 40 năm khắp thiên hạ
được. Đó là một hoang tưởng.
Dù Hồ Chí Minh không phải là Hồ Tập Chương, ông mang thân xác Việt
nhưng tâm hồn Nga. Ông được Liên Sô huấn luyện và trả lương. Ông phải
phục vụ cho nước Nga. Ông phục dịch cho Borodin ở Quảng Châu năm 1925.
Năm 1927 ông chạy về Moscow để tránh sự đàn áp của quân Tưởng Giới
Thạch. Năm 1933 khi thoát khỏi bịnh viện ngục thất Hong Kong, ông tìm
đường chạy về Moscow. Vì lợi ích của đế quốc Liên Sô ông gây đổ vỡ cho
đất nước Việt Nam, phân ly và chia rẽ dân tộc bằng chủ nghĩa Cộng Sản,
sự triệt tiêu và miệt thị trí thức, chiến tranh tang tóc trên quê hương
suốt một phần ba thế kỷ XX. Những người Cộng Sản hậu duệ của ông tôn
sùng "tư tưởng Hồ Chí Minh", tiếp nối con đường do ông vạch ra bằng thân
xác Việt Nam với hồn ngoại quốc, hay nói rõ hơn, bây giờ là xác Việt
nhưng hồn Tàu vì Liên Sô không còn nữa...”
Toàn bộ bài phản biện của Phạm Đình Lân được xây dựng trên tư liệu lịch
sử, biên niên sử của tuyên giáo đảng cộng sản viết về Hồ Chí Minh, có
thêm thắt “dã sử ngoại truyện” chưa được Trần Dân Tiên kể trong cuốn “Những Mẩu Chuyện Về Cuộc Đời Hoạt Động Của Hồ Chủ Tịch”
để cố chứng minh Hồ Chí Minh là người Tàu giả người Việt là không thể,
là hoang đường thần thoại... như chính cuộc đời kỳ bí thần thoại do quốc
tế cộng sản, Việt Nam cộng sản nhào nặn, hư cấu cho Hồ Chí Minh.
Bài đã đăng:
Hồ Chí Minh có nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc? (Phần II)
Hồ Chí Minh có nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc? (Phần II)
Le Nguyen (Danlambao) - Luận điểm hỗ trợ, ủng hộ cho tập sách nghiên cứu “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”
của học giả Hồ Tuấn Hùng khá thuyết phục nhưng phe chống luận điểm Hồ
Chí Minh là Hồ Tập Chương nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc cũng có những
lý lẽ thoáng nghe qua cũng thuyết phục không kém nhưng đi sâu vào phân
tích sẽ thấy tồn tại một số vấn đề cần mổ xẻ.
Tiếng nói phản bác “Hồ Chí Minh giả là không thể xảy ra được”... đến từ một số tác giả có chút tiếng tăm như Nguyễn Duy Chính với “Nhận Xét Về Cuốn Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”, Phạm Đình Lân với “Hồ Chí Minh Người Việt Hay Người Tàu?”
Đặc biệt là hai nhân vật cộng sản phản tỉnh khá nổi tiếng là cựu đại tá
quân đội nhân dân Bùi Tín và nhà văn Vũ Thư Hiên, con của Vũ Đình
Huỳnh, bí thư của Hồ Chí Minh, là tác giả cuốn hồi ký chính trị “Đêm Giữa Ban Ngày” phản bác luận điểm Hồ Tập Chương nhập vai Hồ Chí Minh đóng thế Nguyễn Ái Quốc!
Để phản bác Hồ Tuấn Hùng, ông cựu đại tá quân đội nhân dân Bùi Tín đưa ra bài viết “Cuộc Đánh Tráo Không Thể Có” với lập luận như sau:
“...Thật ra không có khó khăn gì để chứng minh rằng nội dung cuốn
sách chỉ là một điều hoang tưởng, theo kiểu tiểu thuyết trinh thám rẻ
tiền, có thể là do động cơ vụ lợi kèm theo động cơ chính trị ám muội
kiểu nước lớn đang nuôi dưỡng dã tâm thôn tính lâu dài nước ta theo kiểu
gặm nhấm dần.
Dù cho lập luận có vẻ chặt chẽ đến đâu đi nữa, dù cho đưa ra những
chứng cứ có vẻ chân thực đến đâu chăng nữa thì bịa đặt vẫn hoàn toàn là
bịa đặt, cuộc đánh tráo Hồ Chí Minh-Hồ Tập Chương chỉ là trò bịp 100%.
Chỉ cần đặt vài câu hỏi...
...Xin hỏi tác giả Hồ Tuấn Hùng, đảng cộng sản Liên Xô, đệ tam quốc
tế cộng sản để lại ở kho lưu trữ khối tư liệu đồ sộ hàng triệu trang, mở
ra cho công luận, đã có dòng nào nói đến sự kiện “đánh tráo người,” nói
đến bà Vera Vasilieva với sứ mạng huấn luyện cho ông Hồ Tập Chương đội
lốt Hồ Chí Minh?...
...Ông Hồ đã có cả một loạt nhà báo, nhà văn, học giả quốc tế viết về
ông, như W.J. Duiker, Sophie Quinn Judge, Pierre Brocheux, Bernard
Fall, Wilfred Burchett,... với mọi chuyện ly kỳ, sao không có một ai nói
đến chuyện đánh tráo danh nhân...
...Có những người quen biết ông Hồ từ trước năm 1933, như Nguyễn
Lương Bằng, Phùng Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt, cho đến cả ông Nguyễn Hải
Thần, để đến 1942, 1945, 1946 gặp lại, có ai nghi ngờ là đã gặp một con
người khác, một người Tàu giả dạng Việt Nam, đóng vai Hồ Chí Minh một
cách trọn vẹn, đánh lừa mọi người quen biết cũ do đã được huấn luyện kỹ
càng tỉ mỉ, như tác giả Hồ Tuấn Hùng kể lại...”
Đọc bài viết phản bác Hồ Chí Minh giả của Hồ Tuấn Hùng, không khó để
thấy ông Bùi Tín bị cảm tính lấn át lý tính khi ông khẳng định là Hồ
Tuấn Hùng bịa đặt, đánh tráo Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương chỉ là trò bịp
100%, dù ông công nhận chứng cứ của Hồ Tuấn Hùng có vẻ chân thực đến
đâu chăng nữa, qua lập luận: “...Quốc tế cộng sản để lại kho lưu trữ
khối tư liệu đồ sộ hàng triệu trang... Các nhà báo, nhà văn, học giả
viết về Hồ Chí Minh... nhưng có dòng nào nói Hồ Tập Chương đội lốt Hồ
Chí Minh?... Và những người quen ông Hồ... có ai nghi ngờ Hồ Chí Minh là
người Tàu giả dạng..người Việt Nam?...”
Ông Bùi Tín lý luận như thế! Có thể vì ông không biết khối tư liệu đồ sộ
hàng triệu trang của cộng sản quốc tế lưu trữ trong kho tài liệu Nga-
Tàu, có một số liên quan đến Hồ Chí Minh vẫn còn bị niêm phong không thể
tiếp cận được. Cụ thể là ông William J.Duiker sưu tầm tài liệu viết
quyển “Hồ Chí Minh: A life” và bà Sophie Quinn Judge viết quyển “Hồ Chí Minh: The Missing Years, 1919-1941”
đều không được tự do lật tung kho tư liệu về Hồ Chí Minh mà chỉ được
tiếp cận một số nhỏ thông tin vô thưởng vô phạt và chỉ được cộng sản
Việt Nam cung cấp tư liệu “tuyển chọn” để họ viết về Hồ Chí Minh. Tất cả
sự thật đó đã được ông William với bà Sophie bạch hóa trong sách của
họ. Do đó ông Bùi Tín đòi hỏi kho tài liệu của cộng sản quốc tế và của
các ông bà học giả quốc tế nói đến việc đánh tráo Hồ Chí Minh, việc Hồ
Tập Chương đội lốt Hồ Chí Minh đóng vai Nguyễn Ái Quốc, là nhiệm vụ bất
khả thi.
Cũng như ông Bùi Tín đòi hỏi những người như Nguyễn Lương Bằng, Phùng
Chí Kiên, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Hải Thần cùng với nhiều người hoạt
động “cách mạng” với Hồ... nghi ngờ hay nói Hồ Chí Minh giả là không
thể! Vì những người biết Nguyễn Tất Thành lúc hoạt động ở Pháp, biết
Nguyễn Ái Quốc lúc làm cách mạng ở Tàu đều không còn mạng để chỉ ra Hồ
giả và những người biết có mỗi Hồ Chí Minh từ lúc sống trong hang Pác Bó
cho đến lúc đi gặp cụ tổ Mác-Lê ở Hà Nội thì làm sao biết được Hồ là
tên chưa rõ nguồn gốc nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc?
Riêng nhà văn Vũ Thư Hiên phản biện luận điểm của tác giả Hồ Tuấn Hùng về Hồ Chí Minh giả qua bài viết “Tác Phẩm Giả Tưởng Về Hồ Chí Minh” với văn phong hằn học khá gay gắt như sau:
“...Tôi không biết nhiều về ông Hồ Chí Minh, tuy nhiên cũng đủ để
thấy chuyện ông Hồ là người Tàu là chuyện tào lao. Mà chẳng phải chỉ
mình tôi nghĩ thế. Nếu ông Hồ là người Tàu thật thì tất tần tật những ai
từng gặp ông, từng làm việc với ông (có cả nghìn, cả vạn người đấy),
tạm kể từ thời Quốc dân Đại hội Tân Trào 1945 cho tới khi ông qua đời
năm 1969, hoá ra đều mù dở - khốn nạn, ông là Hồ Tập Chương đấy, là
người Tàu đấy, người Khách gia đấy, thế mà không một ai phát hiện...
...không một ai trong những người tiếp xúc với Hồ Chí Minh trong thời
kỳ ấy tỏ ra nghi ngờ ông không phải người Việt. Không một ai trong
những người Việt thuần, ở sát bên ông Hồ Chí Minh trong công việc hàng
ngày trong cuộc kháng chiến chống Pháp (9 năm) như Phan Mỹ, Vũ Đình
Huỳnh, Nguyễn Văn Lưu, Lê Văn Rạng, Lê Giản, Trần Duy Hưng, Trần Hữu
Dực..., và rất nhiều người khác nữa, có một chút nghi ngờ ông Hồ Chí
Minh không phải là người Việt...
...Tôi có mặt trong buổi mừng thọ 60 tuổi ông Hồ Chí Minh tại thác
Dẫng thuộc khu An toàn ở Việt Bắc, tôi lúc ấy 17 tuổi, mắt tinh, đầu
tỉnh táo, xác nhận rằng hôm đó tôi đã gặp một người 60 tuổi thật, chứ
không phải một người 49 tuổi là Hồ Tập Chương.
Tôi cũng xác nhận rằng trong thói quen ẩm thực ông Hồ Chí Minh là
người thích ăn các món ăn Việt Nam như canh riêu, cá kho khô, cà Nghệ
muối xổi… và chưa bao giờ đòi hỏi người nấu ăn cho ông phải làm bánh
bao, màn thầu, tỉm xắm… hay là thứ gì khác gợi nhớ tới ẩm thực Trung
Hoa...”
Phản bác luận điểm của ông Hồ Tuấn Hùng về việc Hồ Tập Chương lấy bí
danh Hồ Chí Minh nhập vai Nguyễn Ái Quốc của ông Vũ Thư Hiên thấp hơn
ông Bùi Tín một bậc nhưng văn phong quá khích đầy cảm tính và lập luận
thiếu khoa học tính khi nói rằng: “...Tôi không biết nhiều về Hồ Chí
Minh... Những người làm việc với Hồ Chí Minh từ thời 1945 đến 1969... Có
cả vạn người không ai nghi ngờ Hồ Chí Minh là người Việt... Tôi có mặt
trong buổi mừng thọ năm 60 tuổi của Hồ Chí Minh... Tôi xác nhận Hồ Chí
Minh thích các món ăn Việt... chưa bao giờ ông đòi hỏi... bánh bao, màn
thầu, tỉm xắm?...”
Lập luận của ông Vũ Thư Hiên hơi liều lĩnh khi tự giới thiệu ông không
biết Hồ nhiều. Năm 17 tuổi có gặp Hồ Chí Minh trong buổi lễ mừng thọ 60
tuổi... Chỉ một lần gặp nhưng ông Vũ Thư Hiên dám xác nhận Hồ Chí Minh
thích các món ăn Việt... không đòi hỏi đầu bếp nấu món Trung Hoa cho ông
ăn? Kể lể cảm tính như ông Vũ Thư Hiên về Hồ Chí Minh đầy rẫy trên các
loa đài của đảng. “...Tôi xác nhận Hồ Chí Minh thích các món ăn Việt?...”
Nó có khác chi với chuyện Hồ Chí Minh đòi nghe nhạc Tàu trước khi đi
gặp cụ Mác, cụ Lê... được văn nô bẻ lái sang chuyện bác đòi nghe câu hò,
câu ví xứ Nghệ trước lúc đi xa...
Phản bác của hai nhân vật cộng sản “nòi” là Bùi Tín, Vũ Thư Hiên về luận
điểm Hồ Chí Minh giả làm Nguyễn Ái Quốc của Hồ Tuấn Hùng thoáng nghe
qua, đọc lướt qua thấy có vẻ hợp lý. Nhưng khi đọc kỹ và đi sâu vào phân
tích sẽ không khó để thấy cảm tính lấn át lý tính của hai ông Bùi Tín
và Vũ Thư Hiên. Điểm then chốt để nhận biết chuyện Hồ Chí Minh có nhập
vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc hay không thì hai ông Bùi Tín, Vũ Thư Hiên
phải biết Nguyễn Tất Thành lúc hoạt động ở Pháp và cũng phải biết Nguyễn
Ái Quốc hoạt động cho quốc tế cộng sản ở bên Tàu mới biết được Hồ Chí
Minh có đóng thế Nguyễn Ái Quốc hay không? Thế nhưng cả hai ông Bùi Tín,
Vũ Thư Hiên đều không biết rõ Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc ở Pháp, ở
Tàu mà chỉ biết Hồ Chí Minh ở Việt Nam “không nhiều” như lời các ông
nói, thì dựa trên cơ sở nào để cả quyết cộng sản quốc tế Hồ Chí Minh
không được huấn luyện đóng thế cộng sản quốc tế Nguyễn Ái Quốc thực thi
nhiệm vụ đánh Mỹ cho Nga-Tàu nhuộm đỏ Việt Nam cho quốc tế cộng sản?
Dù phản bác luận điểm Hồ Chí Minh giả của hai ông cộng sản “nòi” Bùi
Tín, Vũ Thư Hiên có nhiều cảm tính, nhiều lỗ hổng trong lập luận nhưng
cũng đủ để bảo vệ cho tượng đài Hồ Chí Minh không sụp đổ trong cơn bão
“Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” của học giả Hồ Tuấn Hùng. Thế nhưng sự thật
Hồ Chí Minh có phải nhập vai đóng thế Nguyễn Ái Quốc hay không, càng
ngày càng có nhiều bằng chứng thuyết phục. Tuy nhiên Hồ Chí Minh là ai?
Chưa xác định chính xác 100% là Hồ Tập Chương nhưng chắc chắn Hồ Chí
Minh không thể là Nguyễn Ái Quốc và để biết rõ nhân thân của đứa nằm
trong lăng Ba Đình không có cách nào khác thuyết phục hơn là làm thử
nghiệm DNA nhằm làm rõ sự thật lịch sử liên quan đến nhân vật bí ẩn Hồ
Chí Minh.
Saturday, April 9, 2016
"Ráng làm người tử tế"
Ts Nguyễn Hưng Quốc
Chủ
trì phiên họp cuối cùng nhằm từ biệt các thành viên nội các ngày 26
tháng 3, sau khi cám ơn mọi người, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khuyên
những người sắp về hưu như ông “ráng giữ gìn sức khỏe, làm công dân tốt,
đảng viên tốt, ráng làm người tử tế, sống tử tế”.
Lời khuyên trên bao gồm bốn ý chính. Chuyện “giữ gìn sức khoẻ”, “làm công dân tốt” và “đảng viên tốt” không có gì lạ. Lạ nhất là ý cuối “làm người tử tế”. Lạ vì nó ngược với thực tế: Muốn làm một đảng viên tốt thì khó mà sống tử tế được.
Nhớ, trong cuốn phim tài liệu “Chuyện tử tế”, sản xuất vào năm 1985, đạo diễn Trần Văn Thuỷ đã trăn trở đi tìm ý nghĩa của sự tử tế trong xã hội cộng sản thời bao cấp. Cuối cùng, ông tìm ra sự tử tế ở những nơi khuất vắng, ít người biết nhất: một bà mẹ bị bệnh cùi, hằng đêm làm gạch để xây nhà cho đứa con còn bé dại, và đặc biệt, ở bệnh viện cùi với các nữ tu Công giáo, bất chấp những hiểm nguy lây bệnh, tận tình chăm sóc cho các bệnh nhân lở loét đau đớn. Bộ phim đầy những hình ảnh tương phản: bên cạnh những người ăn nhậu thoả thuê là những người nghèo khổ rách rưới lam lũ đói khát dọc hai bên đường; bên cạnh hình ảnh hàng ngàn người chen chúc mua vé xe đò là hình ảnh những cán bộ cao cấp đi xe hơi và bước trên những chiếc thảm đỏ sang trọng mới tinh. Những sự tương phản ấy gợi lên ấn tượng: giới lãnh đạo cộng sản không hề tử tế.
Trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”, Nguyễn Quốc Chánh, hiện sống trong nước, nhận định một cách khái quát:
“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản":
Một người thông minh & lương thiện thì không thể cộng sản,
Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, &
Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh”.
Ở đây có hai vấn đề: Một, thế nào là tử tế (hay lương thiện)? Và hai, tại sao những người cộng sản, ít nhất là lúc tại chức, không thể tử tế?. Khái niệm tử tế, theo tôi, có hai nội dung chính: Thứ nhất, sống theo một chuẩn mực đạo đức phổ quát; và thứ hai, biết nghĩ đến người khác.
Đảng Cộng sản, bất cứ là đảng Cộng sản nào, khi lên cầm quyền, đều hăm he tiến hành ba cuộc cách mạng: cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng văn hoá tư tưởng. Một trong những nội dung chính của cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng là xoá bỏ những bảng giá trị truyền thống mà họ cho là tàn tích lỗi thời của chế độ phong kiến cũng như những mầm mống hư hoại của chủ nghĩa tư bản. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, cái gọi là giá trị truyền thống ấy chính là những hệ thống đạo đức gắn liền với Nho giáo cũng như với văn hoá làng xã. Những quan hệ tốt đẹp giữa người và người như tình nghĩa và nhân nghĩa vốn kết tinh trong xã hội cả hàng ngàn năm bỗng dưng bị phê phán và đả kích kịch liệt. Cuộc cải cách ruộng đất tàn khốc vào giữa thập niên 1950 phá vỡ mọi quan hệ tốt đẹp giữa người và người. Hậu quả là sau mấy chục năm cầm quyền, đảng Cộng sản làm cho mọi giá trị đạo đức truyền thống sụp đổ. Sau này, một số người cố gắng phục hồi lại Nho giáo nhưng đó chỉ là một nỗ lực lẻ tẻ và muộn màng: Những gì bị đánh sập thì khó mà vun đắp lại được. Thành ra, ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong giới đảng viên, hầu như không có một bảng giá trị phổ quát nào còn tồn tại.
Ngoài việc phá hoại những bảng giá trị truyền thống, đảng Cộng sản còn đề cao việc đấu tranh giai cấp. Một trong những nội dung chính của cuộc đấu tranh giai cấp ấy là giành giật quyền lợi từ những tầng lớp thượng lưu vào tay mình. Trong một bài viết ngắn trên facebook, nhà nghiên cứu âm nhạc và văn học Hoàng Ngọc-Tuấn phát hiện ra một điểm lạ trong bản tiếng Việt của bài “Quốc tế ca”. Câu “Le monde va changer de base / Nous ne sommes rien, soyons tout” trong nguyên tác tiếng Pháp của Eugène Pottier (viết năm 1871) có nghĩa là “Thế giới sẽ thay đổi từ căn bản / Chúng ta chẳng là gì, chúng ta hãy là tất cả” được Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của đảng Cộng sản, dịch là “Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa / Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình”. Bản dịch ấy, từ mấy chục năm nay, trở thành lời ca chính thức tại Việt Nam.
Điều đó cho thấy mục tiêu lớn nhất mà đảng Cộng sản Việt Nam nhắm tới, từ lúc mới sơ sinh, là giành giật “lợi quyền” vào tay họ. Khi giành được rồi, hầu như toàn bộ nỗ lực của họ là làm sao giữ được những quyền lợi ấy. Trong chiều hướng ấy, đứng trước nguy cơ “diễn tiến hoà bình”, để mua chuộc sự trung thành của các đảng viên, đặc biệt trong lực lượng công an, họ đặt ra câu khẩu hiệu “Còn đảng còn mình”. Để bảo vệ quyền lợi, có khi họ sẵn sàng hy sinh cả đất nước, điều được dân gian khái quát hoá qua câu nhận định sắc sảo: “Đi với Mỹ thì mất đảng, đi với Trung Quốc thì mất nước. Thà mất nước còn hơn mất đảng.” Có thể nói một cách tóm tắt, từ khi được thành lập đến nay, mục tiêu tối hậu của đảng Cộng sản là giành và giữ quyền lực và quyền lợi cho họ. Cái gọi là “vì dân” của họ chỉ là một chiêu bài rỗng tuếch.
Bởi vậy, khái niệm “đảng viên tốt” rất khó đi liền với khái niệm “sống tử tế”.
Tuy nhiên, có một vấn đề khác cũng cần được chú ý: Lời khuyên làm người tử tế và sống tử tế của Nguyễn Tấn Dũng chỉ được thốt ra khi ông sắp sửa về hưu. Hiện tượng ấy cũng khá phổ biến. Hầu hết những đảng viên lên tiếng phản biện lại chính quyền và đảng cầm quyền cũng như hô hào cho tiến trình dân chủ hoá tại Việt Nam hiện nay đều là những người đã nghỉ hưu. Điều ấy cũng cho thấy khi còn nằm trong bộ máy quyền lực, người ta không thể tử tế được.
Muốn tử tế, người ta phải đi ra ngoài bộ máy quyền lực của đảng, thậm chí phải đi ra khỏi đảng. (RFA).
Lời khuyên trên bao gồm bốn ý chính. Chuyện “giữ gìn sức khoẻ”, “làm công dân tốt” và “đảng viên tốt” không có gì lạ. Lạ nhất là ý cuối “làm người tử tế”. Lạ vì nó ngược với thực tế: Muốn làm một đảng viên tốt thì khó mà sống tử tế được.
Nhớ, trong cuốn phim tài liệu “Chuyện tử tế”, sản xuất vào năm 1985, đạo diễn Trần Văn Thuỷ đã trăn trở đi tìm ý nghĩa của sự tử tế trong xã hội cộng sản thời bao cấp. Cuối cùng, ông tìm ra sự tử tế ở những nơi khuất vắng, ít người biết nhất: một bà mẹ bị bệnh cùi, hằng đêm làm gạch để xây nhà cho đứa con còn bé dại, và đặc biệt, ở bệnh viện cùi với các nữ tu Công giáo, bất chấp những hiểm nguy lây bệnh, tận tình chăm sóc cho các bệnh nhân lở loét đau đớn. Bộ phim đầy những hình ảnh tương phản: bên cạnh những người ăn nhậu thoả thuê là những người nghèo khổ rách rưới lam lũ đói khát dọc hai bên đường; bên cạnh hình ảnh hàng ngàn người chen chúc mua vé xe đò là hình ảnh những cán bộ cao cấp đi xe hơi và bước trên những chiếc thảm đỏ sang trọng mới tinh. Những sự tương phản ấy gợi lên ấn tượng: giới lãnh đạo cộng sản không hề tử tế.
Trong bài “Tao là đứa bé ngoẻo trên lưng Linda Lê”, Nguyễn Quốc Chánh, hiện sống trong nước, nhận định một cách khái quát:
“Có 3 thứ không thể kết hợp với nhau nổi. Đó là: Thông minh, lương thiện & cộng sản":
Một người thông minh & lương thiện thì không thể cộng sản,
Một người thông minh mà cộng sản thì không thể lương thiện, &
Một người lương thiện mà cộng sản thì chắc chắn không thông minh”.
Ở đây có hai vấn đề: Một, thế nào là tử tế (hay lương thiện)? Và hai, tại sao những người cộng sản, ít nhất là lúc tại chức, không thể tử tế?. Khái niệm tử tế, theo tôi, có hai nội dung chính: Thứ nhất, sống theo một chuẩn mực đạo đức phổ quát; và thứ hai, biết nghĩ đến người khác.
Đảng Cộng sản, bất cứ là đảng Cộng sản nào, khi lên cầm quyền, đều hăm he tiến hành ba cuộc cách mạng: cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng văn hoá tư tưởng. Một trong những nội dung chính của cuộc cách mạng văn hoá tư tưởng là xoá bỏ những bảng giá trị truyền thống mà họ cho là tàn tích lỗi thời của chế độ phong kiến cũng như những mầm mống hư hoại của chủ nghĩa tư bản. Ở Việt Nam cũng như ở Trung Quốc, cái gọi là giá trị truyền thống ấy chính là những hệ thống đạo đức gắn liền với Nho giáo cũng như với văn hoá làng xã. Những quan hệ tốt đẹp giữa người và người như tình nghĩa và nhân nghĩa vốn kết tinh trong xã hội cả hàng ngàn năm bỗng dưng bị phê phán và đả kích kịch liệt. Cuộc cải cách ruộng đất tàn khốc vào giữa thập niên 1950 phá vỡ mọi quan hệ tốt đẹp giữa người và người. Hậu quả là sau mấy chục năm cầm quyền, đảng Cộng sản làm cho mọi giá trị đạo đức truyền thống sụp đổ. Sau này, một số người cố gắng phục hồi lại Nho giáo nhưng đó chỉ là một nỗ lực lẻ tẻ và muộn màng: Những gì bị đánh sập thì khó mà vun đắp lại được. Thành ra, ở Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong giới đảng viên, hầu như không có một bảng giá trị phổ quát nào còn tồn tại.
Ngoài việc phá hoại những bảng giá trị truyền thống, đảng Cộng sản còn đề cao việc đấu tranh giai cấp. Một trong những nội dung chính của cuộc đấu tranh giai cấp ấy là giành giật quyền lợi từ những tầng lớp thượng lưu vào tay mình. Trong một bài viết ngắn trên facebook, nhà nghiên cứu âm nhạc và văn học Hoàng Ngọc-Tuấn phát hiện ra một điểm lạ trong bản tiếng Việt của bài “Quốc tế ca”. Câu “Le monde va changer de base / Nous ne sommes rien, soyons tout” trong nguyên tác tiếng Pháp của Eugène Pottier (viết năm 1871) có nghĩa là “Thế giới sẽ thay đổi từ căn bản / Chúng ta chẳng là gì, chúng ta hãy là tất cả” được Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của đảng Cộng sản, dịch là “Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa / Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình”. Bản dịch ấy, từ mấy chục năm nay, trở thành lời ca chính thức tại Việt Nam.
Điều đó cho thấy mục tiêu lớn nhất mà đảng Cộng sản Việt Nam nhắm tới, từ lúc mới sơ sinh, là giành giật “lợi quyền” vào tay họ. Khi giành được rồi, hầu như toàn bộ nỗ lực của họ là làm sao giữ được những quyền lợi ấy. Trong chiều hướng ấy, đứng trước nguy cơ “diễn tiến hoà bình”, để mua chuộc sự trung thành của các đảng viên, đặc biệt trong lực lượng công an, họ đặt ra câu khẩu hiệu “Còn đảng còn mình”. Để bảo vệ quyền lợi, có khi họ sẵn sàng hy sinh cả đất nước, điều được dân gian khái quát hoá qua câu nhận định sắc sảo: “Đi với Mỹ thì mất đảng, đi với Trung Quốc thì mất nước. Thà mất nước còn hơn mất đảng.” Có thể nói một cách tóm tắt, từ khi được thành lập đến nay, mục tiêu tối hậu của đảng Cộng sản là giành và giữ quyền lực và quyền lợi cho họ. Cái gọi là “vì dân” của họ chỉ là một chiêu bài rỗng tuếch.
Bởi vậy, khái niệm “đảng viên tốt” rất khó đi liền với khái niệm “sống tử tế”.
Tuy nhiên, có một vấn đề khác cũng cần được chú ý: Lời khuyên làm người tử tế và sống tử tế của Nguyễn Tấn Dũng chỉ được thốt ra khi ông sắp sửa về hưu. Hiện tượng ấy cũng khá phổ biến. Hầu hết những đảng viên lên tiếng phản biện lại chính quyền và đảng cầm quyền cũng như hô hào cho tiến trình dân chủ hoá tại Việt Nam hiện nay đều là những người đã nghỉ hưu. Điều ấy cũng cho thấy khi còn nằm trong bộ máy quyền lực, người ta không thể tử tế được.
Muốn tử tế, người ta phải đi ra ngoài bộ máy quyền lực của đảng, thậm chí phải đi ra khỏi đảng. (RFA).
Bàn về vỗ tay
Ts Nguyễn Đình Cống
Bình thường vỗ tay là để tỏ ý tán thưởng, động viên, khen ngợi một phát biểu, một biểu diễn của ai đó. Vỗ tay có giá trị cao khi nó xuất phát một cách tự động, bất chợt, là sự bùng nổ ngẫu nhiên do cảm nhận được cái hay, cái tuyệt vời. Lúc này vỗ tay càng to, càng kéo dài chứng tỏ sự hưởng ứng, sự ca ngợi càng mãnh liệt. Trong tiếng vỗ ấy người ta cảm nhận được cái hồn, khơi dậy được nguồn năng lượng tinh thần.
Vỗ tay còn để thể hiện thái độ lịch sự khi tiếp nhận một biểu diễn nào đó.
Trong 2 trường hợp trên người ta căn cứ vào mức độ tiếng vỗ tay để phán đoán tầm thành công của biểu diễn. Vỗ tay vì lịch sự thường chỉ lẹt đẹt vài ba tiếng mà thôi.
Cũng thường gặp vỗ tay theo “mồi”. Đó là khi người trên diễn đàn, phát biểu xong một ý nào đó, rất muốn cử tọa hưởng ứng nhưng chẳng có ai vỗ tay, đành tự mình vỗ tay trước để làm mồi cho người ta vỗ theo. Kiểu vỗ tay như thế thường rời rạc, dựa vào sự nể nang.
Có một loại vỗ tay theo chỉ đạo, được dàn dựng trước. Đó là vỗ tay trong các buổi mit tin để chào mừng ai đó hoặc sự kiện nào đó , trong các đại hội . Kiểu vỗ tay này là theo nhiệm vụ, theo kịch bản, đầy tính xu nịnh. Vỗ rất to, rất dài, nhưng đấy chỉ là những tiếng động vô hồn. Trong mớ hỗn độn âm thanh ấy người ta cảm nhận được sự rời rạc, sự áp đặt, kể cả sự khinh bỉ. Điển hình cho sự vỗ tay này xẩy ra tại đại hội đảng cộng sản Rumani năm 1989 khi nghe bài phát biểu của Tổng bí thư Ceausescu. Người ta vỗ tay rất to, rất nhiều lần, mỗi lần rất dài. Tưởng rằng như vậy thì Ceausescu đang ở trên đỉnh cao của uy tín và quyền lực, không ngờ chỉ sau vài ngày ông đã bị nhân dân vùng lên, lật đổ, bị tòa án kết tội tử hình và bị bắn ngay sau đó.
Gần đây lại thấy xuất hiện nhiều kiểu vỗ tay “từ thiện”. Tại các tiệc cưới hoặc buổi liên hoan, thậm chí tại buổi thuyết trình, có vài người ( chủ yếu là người dẫn chương trình MC ) đề nghị, xin xỏ : “ Xin bà con cho một tràng pháo tay để…”. Vỗ tay là tỏ ý tán thưởng, thế mà phải đi xin thì quá yếu. Các MC tưởng nhầm thế là lịch sự vì cúi đầu xuống để xin, nhưng chưa thấy được sự hèn kém ẩn dưới chữ xin đó.
Xin kể câu chuyện. Hồi tháng 5/ 2014 tôi thuyết trình tại Đại học Xây dựng Miền Trung về Nghệ thuật giao tiếp. Khi tôi kết thúc, thính giả mà phần lớn là sinh viên đã nhiệt liệt vỗ tay. Tiếp theo là phần giao lưu, giải đáp, thảo luận. Sau vài ý kiến, một bạn trẻ phát biểu : “ Trước khi em nêu nhận xét và câu hỏi, em xin các bạn một tràng pháo tay thật to để cám ơn giáo sư Cống đã thuyết trình rất hay”. Nghe đến đây tôi vội vàng giơ tay ra hiệu ngăn lại và nói lớn ; “ Xin đừng, xin đừng”. Sau đó tôi nói tiếp : “ Tôi cám ơn bạn trẻ vừa rồi vì lòng tốt và sự kính trọng đối với tôi mà xin các bạn vỗ tay, nhưng tôi không muốn nhận sự vỗ tay do xin xỏ ấy. Các bạn đã thật lòng vỗ tay rồi, tôi đã cảm nhận được tấm lòng đó, bây giờ lại xin vỗ tay thì tôi chẳng thấy vinh dự hơn mà còn cảm thấy bị xúc phạm, nào, bạn trẻ, có nhận xét hoặc câu hỏi gì cứ nêu ra”.
Thế còn khi bạn phát biểu xong mà cả hội trường im phăng phắc, không một tiếng vỗ tay thì sao. Xin kể 3 chuyện.
Chuyện 1-Tại cuộc họp Quốc hội sáng ngày 01 tháng 4 vừa qua xẩy ra một việc như vậy ( tôi không được chứng kiến kiểu “kỳ mục sở thị” mà chỉ biết qua tường thuật ). Đó là phát biểu nổi tiếng của đại biểu Trương Trọng Nghĩa, phó chủ tịch Hội Luật gia VN. Trong 7 phút LS Nghĩa đã hùng hồn phát biểu những vấn đề quan trọng và cấp thiết của đất nước, những sự thật mà ít ai dám nói tới hoặc tìm mọi cách che dấu hoặc nói ngược lại. Phát biểu xong không có tiếng vỗ tay nào. Hình như gần 500 đại biểu QH, khi nghe xong cảm thấy tự đau xót, thấm thía, xấu hổ, bất động như bị đánh trúng tử huyệt. Cũng có nhận xét là gần 500 đại biểu chỉ là nghị gật, phải cúi đầu xấu hổ trong thân phận bù nhìn.
Chuyện 2-Tại cuộc Hội thảo do Hội Cựu giáo chức tổ chức bàn về “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong đổi mới giáo dục” vào tháng 11 năm 2013 tại Hà Nội ( do GS Phạm Minh Hạc điều khiển), tôi được đọc tham luận. Đọc xong phần chính đã được duyệt, tôi phát biểu thêm mấy câu sau ( không có trong bài chuẩn bị sẵn nộp cho ban tổ chức) : “Trong hội thảo này tôi nghe có 3 tham luận nhấn mạnh rằng phải kết hợp chặt chẽ tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác Lê nin. Tôi cho rằng việc đó không những không cần thiết mà còn có hại. Càng ngày càng thấy rõ Chủ nghĩa Mác Lênin chứa nhiều độc hại, nếu kết hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ làm cho tư tưởng đó bị xấu đi. Tôi đề nghị, để phát triển giáo dục cũng như phát triển đất nước thì nên từ bỏ Chủ nghĩa Mác Lê nin. Xin hết “. Tôi kết thúc tham luận, bước xuống trong không khí im lặng gần như tuyệt đối, không một tiếng vỗ tay, không một tiếng xì xào, không gian như bị đông cứng lại. Vừa đi xuống, tôi nhìn sang hai bên, nhận được những ánh mắt thông cảm, cổ vũ, và cả vài ánh mắt, bộ mặt hằn học, thù hận. Khi giải tán, tôi cố nấn ná lại khá lâu trước cổng để nhận những cái bắt tay thân thiện và một vài lời thì thầm “ được, tớ đồng ý…, giỏi, dũng cảm…”. Tôi có hỏi vài người quen “ sao không vỗ tay”. Nhận được câu trả lời : “ Ủng hộ trong lòng là được rồi, vỗ tay có mà…”. Đó là năm 2013 !
Chuyện 3- Xa hơn chút nữa, tháng 11 năm 2000. Trong chuyến thăm VN của Tổng thống Mỹ Bill Clinton, có buổi gặp gỡ với sinh viên Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Tôi không được dự buổi gặp này, chỉ được nghe nói rằng những thầy cô giáo và sinh viên đến dự phải được lựa chọn trước, được căn dặn là phải ngồi yên ( không được đứng dậy chào mừng) khi Tổng thống Mỹ vào hội trường, không được vỗ tay khi nghe ông ta nói chuyện. Không biết chỉ thị đó từ ai phát ra. Có người đoán là từ Tổng bí thư đảng Đỗ Mười. Đây là kiểu không được vỗ tay theo mệnh lệnh. Tôi có nghe tường thuật trực tiếp buổi đó. Nhiều điều tôi cho là mới lạ, rất hay, đáng ra phải được vỗ tay nhiệt liệt, thế mà hội trường vẫn im phăng phắc. Tôi hết sức thông cảm với những người dự trực tiếp, được nghe những lời quá hay mà phải kìm nén. Ôi chao, các phóng viên ngoại quốc sẽ đánh giá trình độ văn hóa của thầy trò đại học VN ở mức nào.
Thế mới biết, chuyện vỗ tay hay không, tưởng là đơn giản nhưng nhiều lúc chẳng đơn giản chút nào.
*** Hèn đến thế là cùng
Trong truyện ngắn “Đôi mắt” của Nam Cao, khi nghe vợ đọc xong một đoạn của “Tam quốc”, anh chàng Hoàng hạ một câu để đời: “Tài thật, tài thật, tài đến thế là cùng, tiên sư anh Tào Tháo”.
Ngày nay, khi nghe chưa xong đầu đuôi chuyện thời sự, ông bạn già của tôi lẩm bẩm: “Hèn thật, hèn thật, hèn đến thế là cùng”. Tôi chờ xem ông có tiếp thêm câu gì nữa không, đại khái như… tiên sư anh nào đó, nhưng chỉ nghe thấy ông nuốt ực một tiếng, cố ghìm lại cái gì đấy đang muốn trào qua cổ họng. Tôi vội vỗ lưng ông mấy cái và khuyên bớt bức xúc, không thì huyết áp lại tăng. Chuyện thời sự gì mà nóng vậy. Thưa rằng chuyện “dân chủ đến thế là cùng”.
Nhưng trước khi bàn tiếp vấn đề dân chủ, xin kể vài chuyện liên quan đến thái độ hèn.
Chuyện xưa, Hàn Tín lúc còn hàn vi, vui vẻ chui qua háng anh hàng thịt, nhiều người đương thời cho là hèn, quá hèn, nhưng đời sau cho là dũng cảm, quá dũng cảm. Quản Trọng khi còn trẻ, đi lính, khi xông trận thường tìm cách lùi lại phía sau, nhiều người cho là hèn, chỉ có Bảo Thúc Nha bênh vực, và về sau mới thấy rõ Quản Trọng không phải người hèn.
Chuyện gần đây. GS Tạ Quang Bửu, sinh thời kể 2 chuyện liên quan. 1- Năm 1952, giữa rừng Việt Bắc, đêm tối như bưng, mưa gào gió thét, sấm chớp vang trời, ông nằm một mình trong lều, sợ quá, rất muốn chui sang lều bên cạnh, cùng với tướng Nguyễn Chí Thanh cho bớt sợ, nhưng không dám, ngại bị mang tiếng sợ sấm sét. Không ngờ tướng Thanh chui vào lều ông và nói: “Anh Bửu ơi, anh có sợ không, tôi sợ lắm nên sang đây với anh cho bớt sợ”. 2- Năm 1973. Chính phủ họp bàn chuyện mở rộng Thủ đô lên Xuân Hòa. Trước cuộc họp GS Bửu đã bàn với GS thiếu tướng Trần Đại Nghĩa sẽ phát biểu không tán thành. Cuộc họp do thủ tướng Phạm Văn Đồng chủ trì, thảo luận một hồi rồi lấy biểu quyết. GS Bửu thấy mọi người đều giơ tay, cũng rụt rè giơ theo. Bỗng sực nhớ ra, quay sang bên cạnh thấy tướng Nghĩa ngồi im, khoanh tay trước ngực. Kết thúc câu chuyện GS Bửu nhận xét: “Như vậy mình cũng chưa thoát được là một anh hèn, phải như anh Thanh, anh Nghĩa mới là dũng cảm”.
Thế mới biết giữa hèn và dũng cảm nhiều khi cũng khó phân biệt.
Chuyện thời nay. Một số không ít trong tầng lớp trí thức đề cao phương châm “Biết sợ để tồn tại”. Mà sợ đẻ ra hèn. Tưởng trí thức chịu hèn đã là quá đáng. Người ta trông chờ vào sự dũng cảm của một số người khác được cho là ưu tú trong hàng ngũ chính khách. Thế nhưng càng trông càng chẳng thấy. Tại hội nghị lần 6 của BCH TƯ ĐCSVN và sau đó tại cuộc bầu bổ sung vào Bộ Chính trị người ta thấy manh nha một vài hành động dũng cảm, dám biểu quyết ngược lại đề xuất của Tổng bí thư, người ta hy vọng… Nhưng rồi hình như có quân sư đã tìm ra được cách để Tổng bí thư áp đặt được nghị quyết 244 (về quy tắc bầu cử) lên BCH TƯ khóa 11. Nhiều người đã vạch ra rằng những điều chủ chốt của nghị quyết 244 vi phạm trắng trợn điều lệ Đảng. Không biết trong số các ủy viên TƯ 11 có ai phát hiện ra và chống lại không.
Cái sai rõ ràng nhiều người thấy mà mình không thấy thì mang tội u mê, nếu thấy rồi mà không dám nói thì mang tội hèn. Nếu không có ai trong TƯ 11 chống lại cả thì không lẽ toàn bộ chịu mang tiếng hèn. Thôi thì tạm bỏ qua TƯ 11, người ta hy vọng vào các đại biểu của Đại hội 12. Biết rằng đa số đại biểu đến ĐH cho có hình thức, (một số còn tranh thủ ngủ gật), hy vọng may ra có được một số ít tránh được cả u mê và hèn, thể hiện là người có trí tuệ và dũng cảm để dám phản bác NQ 244. Không biết trong hội nghị trù bị đã thảo luận như thế nào, cuối cùng NQ 244 vẫn được thông qua và đem dùng cho ĐH. Không lẽ 1510 đại biểu đều hèn.
Thế rồi đến chuyện Tứ trụ triều đình. Thôi thì Tổng bí thư là việc của Đảng, tạm xong rồi. Tam trụ còn lại là việc của Quốc hội khóa mới, nhưng vì lý do nào đó mà Đảng không chờ được, phải thay ngựa giữa dòng. Việc này, người thì cho là đảo chính, người lại bảo là vi phạm hiến pháp. Đảng lại có cái lý của mình, có cái quyền của mình. Để cho có vẻ thuận chiều thì phải tạo ra việc Tam trụ đồng loạt xin từ chức. Trước đây ít lâu nghe phong thanh là Chủ tịch Sang và Thủ tướng Dũng không từ chức, có người đã vội nhận xét là có gan, việc đó được nhiều người ủng hộ. Nhưng rồi chỉ là tin vịt. Cả 3 vị đều ngậm ngùi bị buộc phải ngậm bồ hòn xin từ chức. Nghe đến đây ông bạn già của tôi thốt lên: “Hèn thật, hèn thật, hèn đến thế là cùng”.
Tôi phân tích cho ông bạn: “Chắc các vị ấy cũng thấy như thế là quá hèn nhưng cũng nên thông cảm cho nỗi khổ của họ. Họ tuy không còn là UV BCT nhưng vẫn là đảng viên, phải tuân thủ kỷ luật Đảng, mà Đảng tự cho mình quyền quyết định nhân sự từ thấp lên cao, tự cho mình quyền ngồi lên trên Quốc hội và Hiến pháp, Đảng có quân đội và công an hùng hậu thề trung thành, thế thì việc thay ngựa giữa dòng có là cái đinh gì, hơn nữa kể từ trước ĐH 12, Đảng đã cử ra 3 vị để thay thế. Từ đó đến nay, mỗi chức vụ có 2 người, đương nhiệm và mới, cứ song song tồn tại. Thật là khó chịu cho cả hai bên. Bên đương nhiệm có danh nghĩa nhưng rồi nói chẳng mấy ai thèm nghe, chẳng khác bù nhìn, bên sắp thay lo gây thế lực và chỉ đạo ngầm, tập hợp lực lượng. Thôi thì ngậm bồ hòn mà xin từ chức cho thoát nợ đời”.
Ông bạn bổ sung: “Rút cục vẫn là quá hèn vì quá sợ. Nhiều kẻ có quyền lực có một nỗi sợ kinh khủng là sợ người ngoài phát hiện, nắm được tội lỗi của mình, sợ bị mang ra xét xử công khai. Chắc là thời gian qua Đảng đã tạo cơ hội cho các vị phạm nhiều tội lớn và nắm chắc chứng cớ để khống chế. Đảng trao cho các vị con dao rồi giữ chặt lấy đầu cán, đưa đầu lưỡi cho các vị nắm, đặt các vị vào tình thế một sống một chết. Mà các vị đang quá sợ chết nên không còn giữ được chút liêm sĩ cuối cùng, biết là quá hèn nhưng đành chịu tiếng xấu để đời chứ không như tôi với ông. Vì không sợ nên ông mới tuyên bố bỏ Đảng một cách thanh thản”.
Hình như trong tôi còn lại một chút xíu nào đó lòng thương cảm đối với các vị nên nói vớt vát: “Biết đâu lịch sử sẽ minh oan và cho việc họ làm bây giờ không phải là hèn mà là dũng cảm cũng nên, như chuyện của Hàn Tín và Quản Trọng thời xưa”. Ông bạn tôi cãi lại: “Việc làm của Hàn Tín và Quản Trọng là lúc họ non trẻ, còn các vị đã là U70”.
Galilê khi bị tòa án giáo hội buộc phải công nhận Thuyết Nhật tâm, chịu hèn một lúc, khi ra khỏi phòng còn lẩm bẩm: “Dù sao nó vẫn quay”. Không biết các vị Tam trụ của VN, sau khi bị ép buộc xin từ chức có lẩm bẩm được câu gì hay không.
Subscribe to:
Posts (Atom)








