Thursday, June 11, 2015

Đội lốt

Đội Lốt
 Đặng Xương Hùng  

Tra từ điển trên mạng, đội lốt được định nghĩa là vỏ bên ngoài giả trá để lừa dối. Tôi sẽ kể cho các bạn 6 câu chuyện về đội lốt.  
Câu chuyện thứ nhất:  Vào khoảng giữa tháng 4 năm 2013, khi tôi đi công tác tại Châu Âu, lúc đang đứng chờ tại sân bay Charles De Gaulle-Paris, đột nhiên tôi nghe thấy tiếng chào từ phía sau: “Chào anh Hùng, anh đi công tác à.” Tôi quay lại, thấy một thầy tu mặc áo cà sa nâu, vấn qua đầu một cái xà cột cũng mầu nâu. Lúc đó, bộ nhớ trong đầu tôi làm việc một cách khẩn trương để nhớ ra xem mình có quen biết ai, đã xuống tóc đi tu hay không? Do cái óc phải làm việc liên tục nên câu chuyện qua lại tôi không thể nào nhớ nỗi nữa, chỉ còn nhớ là «thầy tu» đó cũng đang đi dự hội nghị về tôn giáo tại châu Âu. Khi ngồi trên máy bay tôi mới chợt tỉnh ra : thôi chết rồi, «anh ấy» ở bên an ninh mà mình đã từng quen hoặc là từ thời ở Bỉ, hoặc là thời làm ở trong nước giữa các Bộ với nhau.  
Câu chuyện thứ hai:  Vào đầu tháng 3 năm 2013, tôi đỗ cái xe ô tô của tôi ở cổng Bộ Ngoại giao, trước vườn hoa Kính Thiên, bị công an phường Quan Thánh câu đi mất, hề hề do đậu dưới lòng đường. Khi tôi ra, gặp một anh xe ôm đứng ở góc ngã năm đó: “Xe của chú à, họ chờ mãi không thấy ai nhận, họ câu đi rồi.” Anh vanh vách cho biết có thể xe của chú đã bị câu đến đây đến đây, thế là anh đưa tôi cái mũ bảo hiểm, nói ngồi lên cháu chở chú đi tìm. Điều làm tôi ngạc nhiên là anh rất tự tin trước các trạm công an kiểm tra giao thông trên đường, thậm chí anh còn đưa tôi phi lên vỉa hè trước mặt các anh công an để hỏi thông tin. Tôi nhớ anh còn dặn chú ngồi chờ đây, cháu vào hỏi đồn trưởng xem sao. Tôi đã lấy được xe ra ngay trong ngày hôm đó, phần là do anh xe ôm rất đặc biệt này. Sau tôi nhận thấy anh không bao giờ bị đuổi đi nơi khác, khi mà anh «hành nghề» ở một vị trí rất không cần xe ôm này.  
Câu chuyện thứ ba:  Nhìn hình nữ tu sĩ đi trong đoàn diễu hành 30/4, tôi lại nhớ đến chị ấy. Tôi nhớ mang máng chị ấy tên là Hoa. Chị sang Genève mỗi dịp có hội nghị về nhân quyền ở Liên Hiệp Quốc. Chị là người gốc dân tộc, nhưng chắc Kinh hóa đã từ lâu, vì chị tán phét cũng kinh khủng lắm, mỗi khi có dịp liên hoan tại Phái đoàn. Hình như chị làm ở Ban Dân tộc Trung ương. Mỗi khi ra Hội nghị thì chị lại trút bỏ quần tây, áo veste, mặc vào một bộ đồ dân tộc hoành tráng mà ai cũng phải trầm trồ khen. Chị đến Hội nghị với tư cách đoàn xã hội dân sự đại diện cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam.  
Câu chuyện thứ tư:  Ở những nước khác, ta thường hay nghe kể những câu chuyện về bọn lưu manh, côn đồ giả danh công an để lừa đảo, ức hiếp, trấn lột. Duy chỉ có ở Việt Nam, lại có chuyện ngược đời và hèn hạ, công an đội lốt côn đồ để khủng bố dân thường. Tôi nhường cho bạn đọc liệt kê các vụ việc, vì bản thân tôi không thể kể xiết được hết, tôi chỉ nêu trong câu chuyện thứ tư này, trường hợp đê hèn gần đây nhất mà công an đã «dành» cho cậu thanh niên Gió Lang Thang: « lúc 7h45 ngày 22/4/2015, tại đường Cổ Linh, Long Biên, khi đang trên đường đi mua sữa cho con.Trịnh Anh Tuấn, Facebook Gió Lang Thang bị tấn cong bởi 3 tên côn đồ. Tuấn bị khâu 10 mũi ở đầu, ngón út và áp út, bàn tay trái bị dập xưong, khắp người bị sây xước. Được biết những tên côn đồ này thường xuyên rình rập trước cửa nhà của Tuấn hàng tháng trời, từ khi việc chính quyền Hà Nội có dự án chặt hạ cây xanh. Tuấn là 1 trong các admin của group Vì Một Hà Nội Xanh. Sự việc Tuấn bị đánh có thể là sự trả thù của chính quyền sau những cuộc tuần hành Vì Cây Xanh diễn ra vừa qua».  
Câu chuyện thứ năm: Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, được thành lập năm 1966, tại đâu đó ở Miền Bắc Việt Nam. Tôi vẫn còn nhớ, đầu những năm 1980, tôi bắt đầu đi làm tại Vụ Châu Á 2, Bộ Ngoại giao, trong câu chuyện của các cô, chú lớn tuổi lúc đó, nhiều cô chú nói làm ở Bộ Ngoại giao Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, hình như gọi là CP72 gì đó, có một bộ phận nằm ở Chùa Bộc, Giảng Võ – Hà nội. Nói đến Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam, đảng «ta» rất kiêu hãnh gọi đây là sự sáng suốt, tài tình trong cuộc đấu tranh trên ba mặt trận chống Mỹ, Ngụy xâm lược, để giải phóng miền nam.  
Câu chuyện thứ sáu: Đó là câu chuyện Hồ Quang – Hồ Chí Minh đội lốt Nguyễn Ái Quốc, đánh lừa cả một dân tộc, trong gần một thế kỷ. Nó nên được ghi vào kỷ lục guinness về tội ác với nhân loại. Đối với nhiều người Việt vẫn còn nghi nghi hoặc hoặc về câu chuyện đội lốt này, nhưng trong tôi có một niềm tin, đó là sự thật. Bởi vì, ngay từ bé tôi đã có một số thắc mắc về bí ẩn của ông Hồ. Năm 1969, ông Hồ mất, tôi mới có 8 tuổi, nhưng tôi đã thắc mắc với bố tôi là tại sao bác Hồ lại trích được ông Đỗ Phủ, đời nhà Đường trong di chúc. Ý tôi muốn thắc mắc với bố tôi là một người Việt Nam mà lại nhắc đến câu nói không phải của một vĩ nhân Việt Nam mà lại của một vĩ nhân Trung Quốc, mà lại không phải đương thời mà lại tít tận những đời nào rồi. Bố tôi trả lời bác Hồ của mình thông thái lắm con ạ. Tôi đã tin xái cổ và lúc đó ai ai cũng tin như vậy. Lúc đó, nhà tôi có treo một bức ảnh ông Hồ ngồi trên bộ bàn ghế mây, tay ông cầm cây bút. Tôi thắc mắc với bố là bác Hồ cầm bút như là viết chữ Nho ấy. Trong đầu tôi, cầm bút kiểu ấy làm sao mà viết được. Bố tôi trả lời chụp ảnh ấy mà con. Rồi mọi người bỏ qua thắc mắc ấy, nhưng tôi thì chẳng bao giờ quên được. Lúc đi học, khi học đến «bàn đá chông chênh dịch sử đảng», thì tôi còn nhớ cô giáo dậy văn trả lời rất qua loa chỗ này. Cho đến bây giờ thì tôi mới ngộ ra rằng cô giáo cũng chả biết mà giải thích ra làm sao. Mọi người tự đồng ý với mình như thế là để cho câu thơ nó vần, hoặc là sai chính tả lịch sử đảng chứ không phải là dịch sử đảng. Đến đây, tôi xin kết thúc 6 câu chuyện về đội lốt.  
Tôi chỉ xin kết luận là: 5 câu chuyện đột lốt đầu tiên thì đều là do chủ trương của đảng và đều giành được những «thắng lợi huy hoàng». Câu chuyện đội lốt cuối cùng là tác phẩm cá nhân, nhưng đảng rất cần. Xin hết chuyện.    
Đặng Xương Hùng Thụy sĩ, đêm 30/4/2015 ____  
Đặng Xương Hùng, Lãnh sự VC tại Geneva, tị nạn chính trị. 
Vài lời nói thêm cho bài Đội lốt của tôi:
Ở câu chuyện thứ năm, nói về Mặt trận DTGP Miền Nam Việt Nam, có những chi tiết chưa chính xác mà một số bạn đọc đã chỉ ra. Tôi hoàn toàn đồng ý với các bạn đọc đó và xin nói thêm, tôi viết bài này trong vòng hai tiếng đồng hồ trong đêm 30/4/2015, với trí nhớ và ký ức, nhất lại là những ký ức đã từ rất lâu, không thể không tránh khỏi những chi tiết chưa chính xác. Tôi thiết nghĩ rằng, khi viết về đội lốt thì dù Mặt trận DTGP Miền Nam có thành lập vào năm nào, ở đâu điều đó không quá quan trọng vì nó thành lập lúc nào ở đâu đều do là sự trình diễn của đảng. Tôi thích viết lại thế này: Mặt trận đã được thành lập vào năm mà đảng CS quyết tâm bằng mọi cách “giải phóng miền nam”. Họ phải dựng lên một lực lượng chính trị đối chọi với VNCH. Còn Mặt trận được thành lập ở đâu, tôi cho rằng nó được thành lập trên bàn giấy tại Văn phòng Trung ương đảng.  
Ở câu chuyện thứ sáu, về ông Hồ Chí Minh, một số bạn đọc còn hoài nghi về sự thật ông có phải là người Trung quốc hay không? Tôi thiết nghĩ rằng, việc chứng minh ông Hồ là người Trung quốc là đỡ đòn phần nào cho ông ấy, chứ nếu ông là người Việt Nam chính cống, tội ông còn nặng hơn nhiều. 
Đội lốt Nguyễn Hữu Tư (Tiếp theo Đội lốt của Đặng Xương Hùng) 

1) Nguyễn Tất Thành đội lốt Nguyễn Ái Quốc: Nguyễn Tất Thành, con trai thứ của cụ Nguyễn Sinh Sắc và bà Hoàng Thị Loan (Nghệ an), năm 19 tuổi đã đậu bằng tiểu học tại trường Tiểu học Đông ba (Huế) và học hết lớp Đệ lục trung học trường Quốc học Huế, tương đương lớp 7 cấp 1 bây giờ, rời Sàigòn ngày 5 tháng 6 năm 1911 trong một chân phụ bếp trên chiếc tầu viễn dương Đô đốc  La Touche Tréville đến Pháp sau 2 tháng lênh đênh đầy sóng gió trên biển cả. Ngày 15 tháng 9 năm 1911, Thành nộp đơn xin học nội trú Trường Thuộc địa của chính phủ Pháp nhưng không được chấp thuận, có lẽ vì trình độ học vấn chưa đạt như tiết lộ sau nầy của Trần Dân Tiên (đội lốt) Hồ Chí Minh trong quyển sách: Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Nguồn: Phần 2: http://www.geocities.ws/xoathantuong/tdt/tdt_02.htm)

Yêu cầu gồm có 8 khoản. Những khoản chính là:
  • Việt Nam tự trị
  • Tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do báo chí, tự do đi lại, đại xá tù chính trị
  • Quyền lợi bình đẳng giữa người Pháp và người Việt Nam
  • Bãi bỏ việc ép dân mua rượu và thuốc phiện. Bãi bỏ thuế đinh (người), thuế muối và sưu dịch.
Những yêu cầu ấy gửi đến cho các đoàn đại biểu đồng minh và tất cả nghị viên của Quốc hội Pháp.
Cũng nên nhắc lại ý kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, vì lúc bấy giờ, ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp.
Cần phải nhắc lại: trước khi Nguyễn Tất Thành đến Pháp thì ở Paris đã có 4 nhà tranh đấu Việt nam là Cụ Phan Châu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, Ông Nguyễn Thế Truyền và Ông Nguyễn An Ninh viết báo Pháp đòi hỏi độc lập, tự do, nhân quyền cho Việt nam. Họ dùng bút danh chung là Nguyen, Le Patriot (Nguyễn Ái Quốc). Nguyễn Tất Thành được giao việc mang các bài viết bằng tiếng Pháp của bốn vị trên đến cho các báo Pháp in nên cũng nhận mình là Nguyễn Ái Quốc (Nguyen, Le Patriot).

2) Hồ Chí Minh đội lốt Nguyễn Ái Quốc và trên 200 người từ Á sang Âu, từ nam đến nữ: (Nguồn: https://truehochiminh.wordpress.com/2013/08/02/hcm-co-bao-nhieu-ten-goi-but-danh-bi-danh/)
Theo nguồn chính thống trên đây, danh xưng Hồ Chí Minh xuất hiện lần đầu tiên năm 1942:
92. Hồ Chí Minh, 1942. Để đánh lạc hướng khi hoạt động tại Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh. Ngày 13 tháng 8, 1942, Hồ Chí Minh đi Trung Quốc. Ngày 27 tháng 8, 1942 tại Túc Vinh Hồ Chí Minh bị bắt. Khi kiểm soát giấy tờ thì thấy thẻ hội viên Hồ Chí Minh là “Hội Ký Giả Thanh Niên Trung Quốc.” Hồ Chí Minh bị phe Tưởng Giới Thạch nghi ngờ là gián điệp cộng sản và bị bắt giải đi giam qua 13 huyện thị của tỉnh Quảng Tây. Ngày 10 tháng 9, 1943 Hồ Chí Minh được thả.
Năm 1932, Nguyễn Tất Thành/Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao trong nhà tù Hồng kông và được đưa về chôn ở nghĩa trang Kosovo, Moscow.
Nguồn: Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, Trang 9, Thư gửi Chủ tịch đoàn Quốc tế cộng sản, Hồ Chí Minh viết: Quảng Châu, ngày 18 tháng 12 năm 1924
(Trong lúc nầy, tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc/Nguyễn Tất Thành)


Tài liệu tiếng Pháp, lưu tại Cục Lưu trữ Văn Phòng Trung Ương đảng.
 

27. Lý Thụy, 1924. Nguyễn Ái Quốc dùng bí danh Lý Thụy trong thời gian hoạt động ở Trung Quốc. Ngày 11 tháng 11, 1924, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu với các giấy tờ tùy thân mang tên Lý Thụy. Trong bức thư gửi Quốc Tế Cộng Sản, ngày 18 tháng 12, 1924, Nguyễn Ái Quốc ghi ở cuối thư: ”Trong lúc này tôi là một người Trung Quốc, chứ không phải là một người An Nam, và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc.”
Lý Thụy là bí danh của Hồ Chí Minh từ năm 1924, vậy Hồ Chí Minh là một người Trung quốc tên là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc.

Tuesday, June 9, 2015

Vết roi: Đạo đức Hồ Chí Minh

VẾT ROI

* MINH DIỆN 
Kỳ thi đại học năm ngoái, con gái tôi thiếu nửa điểm, thế là bao nhiêu hy vọng háo hức của cả nhà tiêu tan. Nhìn con bé héo quắt, khóc đỏ mắt, vợ chồng tôi đứt ruột! Vợ tôi gọi điện cho mấy người bạn, rồi lau nước mắt bảo tôi:
- Em mượn bạn được ngàn rưỡi đô, chắc đủ mua nửa điểm cho con gái.
Tôi giật mình:
- Mua ai? Nhà mình có bao giờ làm việc đó đâu?...
Vợ tôi nói rất tự tin:
- Người ta mua bán đầy! Mình đến vợ chồng anh Lập là xong.
Anh Lập là con bác ruột tôi, anh là giáo sư tiến sĩ, đang làm Bí thư Đảng ủy kiêm Chủ nhiệm khoa Triết trường Đại học nơi con gái tôi dự thi. Chị Dung vợ anh cũng là tiến sĩ, làm Trưởng phòng Giáo vụ trường ấy. Tuy anh em chú bác ruột, cùng ở Hà Nội nhưng chúng tôi vẫn có một khoảng cách. Vợ chồng anh Lập thuộc tầng lớp trí thức, là cán bộ đảng viên ở cương vị lãnh đạo. Còn vợ chồng tôi chưa học hết lớp 12, chỉ là chủ một đại lý gas, chênh lệch nhau rất xa. Thỉnh thoảng chúng tôi đến thăm anh chị, cứ len lét như rắn mùng năm. Hễ chúng tôi lân la bàn đến chuyện tiêu cực ngoài xã hội là anh Lập và chị Dung mắng té tát…
Vậy mà bây giờ bảo đến gặp anh chị ấy mua điểm cho con? Uống mật gấu tôi cũng không dám!
Sau một đêm thức trắng suy nghĩ, sáng sớm hôm sau, tôi lấy xe máy chở vợ về Hải Phòng. Phải đánh bài liều nhờ bố tôi sang nói với anh chị Lập xem sao?
Quốc lộ 5 xe nườm nượp ngược xuôi. Tôi gập mình mở hết ga, chiếc xe hơn 100 phân khối phóng đi giữa giá rét. Gió rít ù ù, buốt cả tai. Về đến nơi thì bố mẹ tôi không có nhà. Cô em gái út nói:
- Thầy bu về quê tìm mộ bác Quang và giỗ bà rồi. Anh chị ăn cơm, chiều về quê với chúng em.
Còn bụng dạ nào mà ăn? Tôi uống đầy bụng trà đá cho đã khát rồi ngược đường Mười về Thái Bình.
Quê tôi làng Giành. Bố tôi trước đi bộ đội đóng quân ở Hải Phòng, năm 1975 ông chuyển ngành, làm cán bộ Sở Thương binh Xã hội. Ông đưa gia đình theo. Tôi lấy vợ người Thanh Hóa, lên Hà Nội bươn chải làm ăn. Cái cảnh một chốn bốn quê làm tôi tất bật chẳng lo được chỗ nào trọn vẹn, đến nỗi ngày giỗ bà nội mà không nhớ!...
Làng Giành kia rồi! Tháp chuông nhà thờ Giành nhọn hoắt như cây thông cao vút. Tôi nhấn ga, chiếc xe bon nhanh. Con đường láng nhựa giữa cánh đồng mới gặt thơm nồng mùi rơm rạ. Lòng tôi nao nao. Thấy nhiều người lom khom gần bến sông Cô, tôi chậm xe nhìn, nhận ra bố tôi trong đám người ấy. Có lẽ mọi người đang tìm mộ bác Quang tôi?...
Hơn năm mươi năm trước, một đêm cuối năm, bác Quang tôi bị giặc Pháp tra tấn ở chân tháp chuông nhà thờ, rồi lôi ra bến sông Cô bắn. Mấy người xóm Bến chôn bác dưới gốc cây ruối, không có áo quan, chỉ phủ lên người bác mấy viên gạch. Cây ruối đã đã bị chặt lâu rồi. Những người chôn bác tôi, kẻ thì phiêu bạt, kẻ mất. Mấy chục năm nay hài cốt bác tôi vẫn lạc ở ven sông…
Đúng là bà con trong họ tôi đang tìm hài cốt bác Quang. Thấy vợ chồng tôi đến, mọi người ùa tới mừng rỡ. Bố tôi tỏ vẻ hài lòng, cười trách:
- Năm nay vợ chồng anh nhớ ngày giỗ bà nhỉ?
Tôi nháy vợ. Giờ mà hở chuyện đi tìm bố nhờ chạy điểm cho con thì rách việc. Tôi cầm chiếc thuốn, đứng vào hàng người tìm mộ. Khu vực bến Cô đã chăng dây chia lô, mọi người dàn hàng ngang, xăm hết chỗ này đến chỗ khác, từ ruộng đến bờ, chỗ nào cũng xăm. Mỗi lỗ xăm cách nhau khoảng gang tay, hễ nghe tiếng “kịch” là hồi hộp nín thở, rồi thắp hương khấn vái, để quả trứng gà luộc lên đầu chiếc đũa. Người ta nói nếu quả trứng đậu trên đầu đũa dựng đứng đến tàn nhang thì phía dưới ắt là hài cốt người thân. Mấy ngày qua xăm nát cánh đồng mà quả trứng chẳng chịu đứng yên trên đầu đũa. Nhưng mọi người vẫn không nản. Bố tôi nói:
- Trước khi mất bà nội trăn trở không nhắm mắt được vì chưa tìm được hài cốt bác Quang…
Mặt trời như trái hồng chín rơi xuống dòng sông Cô, nước ngũ sắc ánh lấp loáng. Tiếng chuông nhà thờ Giành ngân vang, tan buổi lễ chiều chủ nhật. Bố con tôi và bà con dung dăng kéo nhau về nhà thờ họ…
Dù chưa tìm được mộ bác Quang, đám giỗ bà nội tôi vẫn tổ chức linh đình. Vợ chồng anh Lập đánh xe con bóng lộn về, cả họ chạy ra đón mừng tíu tít.
Ngày bác Quang hy sinh, anh Lập mới lên năm. Bác gái gửi con cho bà nội và bố mẹ tôi nuôi. Vài năm sau bác gái cũng hy sinh. Năm anh Lập mười lăm tuổi, là con liệt sĩ, anh được nhà nước đưa sang Liên Xô học. Vợ anh là chị Dung cũng học ở Liên Xô, là con một cán bộ cao cấp. Bác Quang là hình ảnh thiêng liêng của dòng họ thời quá khứ. Anh Lập con bác là niềm tự hào của dòng họ thời hiện đại. Anh như tấm gương sáng để người trong họ soi. Con cháu có đứa nào làm điều gì khuất tất thì người lớn nói: “Mày còn dám nhìn anh Lập không?” Mỗi khi có chuyện hệ trọng, người trong họ đều hỏi ý kiến anh Lập. Anh là người học rộng hiểu nhiều.
Giờ đây, đối với tôi, việc “chạy” điểm cho con gái đầu vào đại học quả rất hệ trọng. Trong khi tôi trù trừ thì vợ tôi nhanh nhẩu “cầm đèn chạy trước ô tô”. Cô ấy thủ thỉ với mẹ chồng, mẹ tôi vì thương cháu đã nói nhỏ với bố tôi chuyện đó. Bố tôi nghe xong, mặt đỏ lựng. Ông không nói gì với vợ chồng tôi mà mời tất cả mọi người lớn bé già trẻ lại. Ông thắp ba nén nhang lên bàn thờ rồi hỏi:
- Mọi người có biết tại sao bên cạnh bài vị bác Quang lại có chiếc roi mây không?
Quả thật bây giờ tôi mới để ý đến cái roi mây dựng bên bài vị bác Quang. Tôi ngơ ngác nhìn chung quanh… Mấy người lớn tuổi tủm tỉm cười, tỏ ý biết nguồn gốc chiếc roi mây đó, còn hầu hết đều ngạc nhiên chưa hiểu.
Bố tôi chậm rãi kể:
- Giáp Tết năm 1946, anh Quang tôi về nửa đêm khuya. Quanh người anh ấy quấn một ruột tượng đầy nhẫn, lắc và dây chuyền vàng. Mẹ tôi hỏi: “Vàng ở đâu nhiều thế?” Anh Quang nói: “Vàng dân ủng hộ chính phủ đấy mẹ ạ. Cấp trên giao cho con mang số vàng này sang Lào để mua súng đạn đánh Tây” Rồi anh nói: “Hồi sáng tới giờ con chưa có miếng gì vào bụng. Nhà còn cơm nguội không bu?” Anh tôi thế đấy: Đeo một ruột tượng vàng mà nhịn đói. Tôi nhìn anh, nhìn cái ruột tượng đầy vàng mà cảm phục, rồi lại không tin…
Hôm đó anh Quang ăn hai bát cơm nguội rồi rúc vào ổ rơm ngủ. Lừa lúc anh ngủ say, tôi lẻn vào buồng bới cót thóc moi ruột tượng vàng giấu trong đó. Tôi trộm ba chiếc nhẫn - mỗi chiếc một chỉ, rồi mò sang nhà ông Khán Thủ đánh tổ tôm. Đến gà gáy tôi thua hết ba chỉ vàng ấy.
Hôm sau anh Quang nói với mẹ tôi: “Con đi lần này chắc lâu mới về. Bu ở nhà động viên thằng Chính tòng quân. Nó 17 tuổi rồi, ở nhà lêu lỏng lớ ngớ bị bắt đi lính ngụy thì khốn”. Mẹ tôi nói: “Ừ. Để bu lo” Rồi vào buồng lấy ruột tượng vàng mang ra cho anh Quang. Tôi dửng dưng không mảy may lo sợ vì nghĩ chả ai biết tôi ăn trộm vàng. Nhưng khi anh Quang cầm ruột tượng vàng quấn vào người, anh chăm chú nhìn chỗ thắt nút… Thì ra anh đã dán niêm phong vào đó. Đêm qua nhập nhoạng tối tôi không để ý. Thấy mất dấu, anh Quang biến sắc, vội cởi nút ruột tượng đổ vàng ra chiếu, tỉ mẩn đếm lại từng thứ… Tôi hồi hộp lo lắng, lại nghĩ một đống vàng thế kia mất ba chỉ có trời mới biết. Mà vàng của chính phủ chớ có phải của riêng ai? Anh Quang đếm đi đếm lại nhẫn, lắc, dây chuyền… Miệng lẩm bẩm: “Thiếu ba chiếc nhẫn vàng”. Tôi nghĩ anh Quang nói thế thôi, chắc không truy kẻ trộm đâu. Mấy nghìn chiếc nhẫn, mất ba chiếc ăn thua gì. Vả lại vàng của chính phủ chứ đâu phải của anh.
Không ngờ anh Quang bóp trán suy nghĩ rồi quay ra hỏi tôi: “Chú lấy ba chiếc nhẫn phải không?” Tôi ấp úng… Anh Quang nạt: “Phải không?” Tôi cúi đầu đỏ mặt: “Em trót!...” Rồi thú nhận đã lỡ dại trộm ba chiếc nhẫn vàng đánh tổ tôm thua hết rồi. Anh Quang gằn giọng hỏi: “Mày có biết đấy là vàng của ai không?” Tôi đáp: “Của… chính phủ…” Anh Quang quát: “Đó là xương máu của dân”.
Rồi anh đứng lặng, răng cắn chặt vào môi bật máu, nước mắt nhỏ từng giọt, từng giọt… Anh đùng đùng vào bếp lấy dao chặt sợi mây làm roi, chỉ mặt tôi dằn từng tiếng: “Làm người phải sống trong sạch nghe chưa?” Dứt lời anh quất thẳng chiếc roi mây vào người tôi. Mỗi phát roi anh hỏi: “Nhớ chưa?” Tôi đau điếng nẩy lên, buốt nhói! Roi mây dứt từng miếng thịt trên lưng tôi, máu phụt ra ướt đẫm. Tôi đau đớn quằn quại ngất đi… Khi tỉnh dậy tôi nghe tiếng anh Quang nói với mẹ: “Khi thầy còn sống, dạy con đói cho sạch rách cho thơm. Con theo Đảng, một lòng chí công vô tư. Ba chỉ vàng đó là xương máu của dân đóng góp cho chính phủ. Thằng Chính lỡ ăn cắp đánh bạc thua, gia đình mình phải bồi thường không thể thiếu một phân mẹ ạ!”
Ngay hôm đó, mẹ tôi bán bò mua ba chiếc nhẫn vàng bù vào số vàng tôi đã trộm. Anh Quang im lặng đắp vết thương cho tôi.
Trước khi ra đi anh lau nước mắt cho tôi và nói: “Từ nay đừng làm điều gì khuất tất em nhé?”.
Bốn năm sau anh Quang bị địch bắt khi đang làm Phó bí thư Tỉnh ủy phụ trách tài chính. Anh đã chấp nhận hy sinh chứ không chịu khai nơi cất giấu tiền bạc của Đảng.
Hơn năm mươi năm qua, tôi vẫn giữ chiếc roi anh Quang đã dùng để dạy tôi làm người tử tế. Chiếc roi còn kia”.
Bố tôi kể xong nhìn thẳng vào mặt tôi. Tôi xấu hổ chột dạ lỉnh ra ngoài… Vợ tôi đểnh đoảng, hay cố tình không nghe lời dạy và răn đe của bố chồng, tối hôm ấy cô ta lén gặp riêng vợ chồng anh Lập, dúi vào tay chị Dung cái phong bì đựng 1.000 đô la:
- Em mượn bạn bè được ngần ấy, anh chị thương cháu giúp em nhé?...
Chị Dung cầm phong bì nắn nắn rồi vứt xoạch lên bàn, cười nói với anh Lập:
- Vợ chồng nhà Tuấn đưa 1.000 đô la mua điểm cho con nó vào đại học đấy!
Anh Lập bỏ tờ báo đang đọc dở, quắc mắt hỏi vợ tôi:
- Sao chú thím lại dám làm thế?
Vợ tôi ấp úng:
- Dạ… em…
Anh Lập nghiêm khắc:
- Chú thím coi thường tôi quá đấy! Con chú thím cũng như con tôi. Năm nay nó chưa đủ điểm thì chịu khó ôn tập sang năm thi lại. Bày trò chạy chọt mua bán điểm là làm hư nó. Hiểu chưa?
- Em đâu dám mua bán… Chỉ nhờ anh chị giúp cháu… Tội nó quá!...
Chị Dung chua chát:
- Chú thím định bôi tro trát trấu vào mặt anh Lập và tôi chắc?
- Em… xin lỗi anh chị…
Anh Lập quát:
- Mau mang tiền về, kẻo cả họ nhổ vào mặt bây giờ!
Rồi cầm phong bì ấn vào tay vợ tôi. Vợ tôi xấu hổ ôm mặt khóc chạy ra khỏi ngôi nhà thờ Tổ.
Chuyện vợ chồng tôi đặt vấn đề mua điểm cho con gái ngay sáng hôm sau đồn ầm lên. Những người đi tìm mộ bác Quang túm tụm bàn tán, dè bỉu. Ông Khanh nói:
- Bố mới giảng đạo đức buổi sáng thì đến tối con cái đã làm thế! Nỡm thật!
Bố tôi nghe được, nói với tôi:
- Vợ chồng con trát bùn vào mặt bố rồi đấy!
Vợ tôi ấp úng:
- Con xin lỗi bố…
Bố tôi nói:
- Con là dâu bố không chấp. Nhưng thằng Tuấn thì bố phải trị vì không biết bảo vợ. Nó im lặng là ý cũng muốn như thế.
Sau đó bố tôi mời mọi người vào nhà thờ Tổ. Ông gọi tôi vào, bắt đứng trước bàn thờ. Ông thắp nhang khấn rành rọt:
- Thưa vong linh tổ tiên, thưa anh Quang: Con trai em là thằng Tuấn làm điều khuất tất không thể dung tha, xin anh cho em mượn chiếc roi để dạy nó làm người tử tế.
Bố tôi sụp đầu lạy ba lạy rồi đứng lên cầm roi mây chỉ vào mặt tôi:
- Từ nay phải sống cho sạch nghe Tuấn.
Dứt lời ông vung roi quất thẳng vào tôi. Chiếc roi phập vào lưng tôi buốt nhói! Tôi đau đớn và nhục nhã ê chề trước hàng chục cặp mắt họ hàng thân sơ. Có người xót, thông cảm, có người hả hê…
Giữa lúc đó vợ chồng anh Lập chạy vào, anh gỡ chiếc roi mây khỏi tay bố tôi, đỡ ông ngồi xuống ghế, rồi quay ra nói với mọi người:
- Lối sống thực dụng và kinh tế thị trường đã và đang tác động sâu sắc vào nhận thức tư tưởng mỗi chúng ta. Nó xâm nhập làm phá vỡ nền tảng đạo đức Cộng Sản. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chúng ta phải giữ vững bản lĩnh…
Anh Lập còn nói nhiều nữa, mọi người im phăng phắc nghe anh nói trơn tru như đọc bài giảng chính trị. Anh nhắc nhở mọi người trong họ tỉnh táo tránh xa mặt trái kinh tế thị trường. Mọi người nín thở, nuốt từng lời anh nói. Mỗi lời nói của anh như một nhát roi quất vào mặt tôi. Tôi ôm mặt nhoài người lách khỏi đám đông lôi theo cô vợ đang đầm đìa nước mắt. Vợ chồng tôi lủi ra sau, trốn về Hà Nội…
Dù vợ chồng tôi giấu, nhưng con gái tôi vẫn biết chuyện tôi bị đánh đòn. Nó nói:
- Tại con mà bố mẹ khổ! Xin bố mẹ đừng trách ông nội và vợ chồng bác Lập. Qua việc đó con rất tự hào vì họ hàng nhà ta!
Rồi con gái tôi viết thư thay mặt bố mẹ xin lỗi ông bà nội, hứa quyết tâm sang năm thi vào đại học không thiếu điểm. Nó cũng chạy sang xin lỗi vợ chồng bác Lập.
Những vết roi trên lưng tôi chưa lành thì một buổi sáng cuối mùa thi, tôi ngồi ở quán cà-phê đầu hẻm, bỗng nghe đứa trẻ bán báo rao to:
- Báo mới đây! Vụ bán điểm thi ở trường đại học T. đã được phanh phui… đây…
Tôi mua tờ báo, dán mắt vào hàng chữ in đậm mà thằng bé bán báo vừa chỉ… Tôi bàng hoàng không tin vào mắt mình: Giáo sư tiến sĩ Lập - Bí thư Đảng ủy kiêm chủ nhiệm khoa, và vợ là tiến sĩ Dung - trưởng phòng giáo vụ trường Đại học T. liên quan trực tiếp đến đường dây mua bán điểm thi vào trường, thu lợi bất chính hàng trăm triệu đồng…
Thật vậy sao!? Vợ chồng anh Lập chẳng sạch sẽ đạo đức như bố tôi và mọi người trong họ tưởng, mà là ổ dòi bọ từ lâu rồi. Những lời nói như vẹt của anh Lập chỉ để lòe bịp những người thật thà, mê mẩn truyền thống gia đình như bố tôi. Vợ tôi nói: “Cứ đến anh Lập mua điểm” đâu có sai.
Vợ chồng Lập không bán điểm cho vợ chồng tôi vì chỗ “người nhà” không được giá cao, nhỡ có người biết được thì đúng là bôi gio trát trấu vào mặt. Độc địa hơn, anh chị ấy còn lợi dụng sự nôn nóng, ngay thật của vợ tôi để đánh bóng mình trước họ hàng…
Tôi giấu tờ báo, không muốn vợ con biết cái tin quá buồn này. Dù sao anh Lập cũng là ruột thịt.
Nhưng khi về nhà tôi thấy trên bàn của vợ tôi, cả trên bàn học của con tôi đã có hai tờ báo khác nhau đăng tin anh Lập chị Dung bán điểm thi…
Vợ tôi uất ức, giờ được dịp cạnh khóe:
- Anh gửi bài báo này về quê cho họ hàng, đưa lên bàn thờ mà vái. Để cạnh chiếc roi mây mà bố đánh anh đấy!
Đứa con gái của tôi thì nói giọng buồn tênh:
- Con thất vọng quá bố ạ!... Vậy mà năm nào vợ chồng bác Lập cũng đi tìm mộ ông Quang!...
Khuôn mặt ngây thơ trong sáng của con tôi tối sầm như bị đám mây đen che phủ.
Tôi cảm thấy đau đớn còn hơn bị ăn roi bố đánh. Thế là một vết roi vô hình đã quất vào tâm hồn trong sáng của con tôi!.
Năm nay, lại đến mùa thi!...
MD (Tác giả gửi BVB)

Ho Chi Minh Pork (thịt "heo" Hồ Chí Minh)

Bút ký về một chuyến đi

http://baomai.blogspot.com/
Cuối năm con Ngựa là thời gian tôi có nhiều tin không vui. Bà chị dâu Cả ra đi bất ngờ, đến cậu em vợ mới hơn năm mươi tuổi, phải đột ngột vào nhà thương mổ tim. Thêm vào đó là vài người bạn cũng từ giã cõi trần, dù mới ngoài sáu mươi. Những chuyện không mấy vui làm vợ chồng tôi đâm ra bi quan.

http://baomai.blogspot.com/
Nhà tôi nẩy ra ý kiến là đi du lịch dịp Tết Ất Mùi vì e ngại lúc quá già đi không nổi lại tiếc nuối. Về hưu rồi, con cái tự lập cả, hà tiện làm chi? Lập luận của nhà tôi vô cùng hợp lý và nói sao làm vậy, bà mua vé đi cruise vùng Singapore, ghé Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai. Từ hồi về hưu, tôi đâm ra lười biếng, phó thác mọi sự cho nhà tôi, không thắc mắc. Đó là lý do chúng tôi có chuyến "đông du" để ghi lại vài điều đáng nhớ làm câu chuyện vui cho bạn đọc.

image
Chúng tôi tới Singapore khoảng 2 giờ sáng. Tôi có thiện cảm với Singapore ngay khi mới ra khỏi máy bay. Phi trường lớn, đẹp và tổ chức rất quy củ. Điểm nổi bật là trong phi trường có trưng bày rất nhiều cây xanh và hoa, đặc biệt là hoa Lan, làm du khách cảm thấy rất nhẹ nhàng thoải mái, khác hẳn với không khí quá nhộn nhịp vội vàng của các phi trường lớn của Hoa Kỳ như Houston, New York hay San Francisco. Ngay tại trạm đến, có quán Heavenly Wang, một quán ăn bình dân mở cửa suốt ngày đêm. Đang đói bụng mà có quán mì và cà phê thì thật thú vị. Chỉ tiếc là họ không có Phở.

image
Rời phi trường, chúng tôi lên thẳng du thuyền Mariner of the Seas và ra khơi ngay hôm đó. Chúng tôi đi khá nhiều Cruises nên chuyến đi cruise chẳng có gì đáng nói. Tuy nhiên, đây là chuyến từ Singapore đi Thái Lan rồi ghé qua Việt Nam nên có chuyện khá đặc biệt. Khi tàu vào vịnh Thái Lan, trong lòng tôi không khỏi bồi hồi. Buổi tối, lên boong tàu nhìn biển đen nghịt, tôi liên tưởng đến những con tàu tí teo vượt biển tìm tự do của bao nhiêu đồng bào không chịu nổi sự trả thù của chế độ cộng sản. Chính trong vùng biển này, hàng trăm ngàn người đã bỏ xác trong bão tố và hải tặc chỉ vì hai chữ Tự Do. Tôi lặng người thầm cầu nguyện cho những linh hồn còn lưu lạc chốn này. Gần 40 năm đã qua đi, những oan hồn này bây giờ ở đâu và nhà nước Việt Nam thì vẫn lờ đi, như không biết đến. Bao giờ các linh hồn này mới được siêu thoát?

image
Không biết có phải vì cứ băn khoăn về số phận của những nạn nhân vượt biển năm xưa hay không mà tôi thấy chuyến đi cruise này có nhiều điều bất như ý. Du khách đa số là người Tàu, Mã Lai, Indonesia, có cả một số du khách từ Việt Nam và Úc nữa. Thành phần du khách này phải nói là họ quá ồn ào và "vô tư" so với du khách từ phương Tây. Nhiều phụ nữ Trung Đông để nguyên cả áo dài xuống hồ tắm và bồn nước nóng, làm tôi ngại quá, không dám xuống hồ nữa. Một số bà Tàu thì sáng nào cũng thản nhiên chiếm ngữ track chạy bộ để múa tài chi.

image
Hình như họ không biết tiếng Anh nhiều thì phải nên thản nhiên đi bộ ngược chiều, tay chân múa lọan lên, do vậy, buổi sáng ra chạy bộ trên boong tàu phải tránh né họ phát mệt. Vào phòng ăn thì náo nhiệt, chen lấn thật là bất an. Tôi thấy có bà trùm hết mặt, chỉ còn hai mắt, bốc bánh mì lên nắm bóp "khám nghiệm" rồi bỏ xuống, một bà Á châu khác, thì nếm thử nước chấm bằng chính cái muỗng để múc, xem có đúng khẩu vị không! Họ làm như các hàng quán ở chợ Bến Thành hay khu Little India của Singapore không bằng. Chuyện này khó thấy tại các cruise bên Âu Mỹ. Đồ ăn trên cruise này có lẽ do đầu bếp gốc Mã Lai và Tàu. Tuy nhiên các món Tây Phương cũng dưới tiêu chuẩn so với các du thuyền khác mà tôi có dịp đi. Tôi đặc biệt để ý đến món "Ho Chi Minh Pork". Món này là một đề tài tán gẫu của các du khách Việt Nam, từ Mỹ, Úc và ngay cả từ Việt Nam.

image
Chắc không ai thắc mắc gì nếu thấy tên món New York Steak, Mắm ruốc Bà Giáo Thảo hay Bánh Bao Ông Cả Cần đâu, ngoài việc khen chê ngon hay dở. Nhưng món "Thịt Heo Hồ Chí Minh" hay "Thịt Hồ Chí Minh" lại là một đề tài khá thú vị cho những du khách có máu tiếu lâm. Một du khách Úc gốc Việt nói với vợ:
"Này em, ngộ quá, có món thịt Hồ Chí Minh nè, ăn cũng được đó chớ"

Bà vợ nạt liền:
"Khiếp, nghe mà muốn ói. Thịt heo thịt gà còn ăn, chứ thịt ông Hồ, No way!"

Ông chồng phản đối:
"Thì thịt heo chứ sức mấy mà em được ăn thịt Bác, nghèo mà ham!"

Bà vợ gạt đi:
"Thôi, xin cám ơn, chuyển đề tài đi kẻo em ói mất."

Ngồi gần, nghe được cuộc đàm thoại, tôi không khỏi mỉm cười. Không biết các quan chức nhà nước lo việc tuyên truyền giáo dục ở Việt Nam nghĩ thế nào khi biết có món ăn này trên du thuyền nhỉ. Ở Việt Nam thì Bác là thần tượng, toàn dân phải lo học tập Tư Tưởng, Triết lý của bác chứ ai mà dám nói tới "thịt Hồ Chí Minh". Làm sao mà cấm họ, để khỏi phạm thượng như thế? Thật là nan giải!

image
Tôi thầm nghĩ không biết ông Hồ Chí Minh mà còn tỉnh táo để biết có kẻ dám mang tên mình ra đặt cho món ăn, xếp mình ngang hàng với Ông Cả Cần, Bà Giáo Thảo thì ông Hồ nghĩ sao nhỉ. Ông dám nổi giận tuyệt giao với Singapore và cấm không cho Cruise line này ghé Việt Nam lắm. Tôi cũng chẳng dám mang chuyện này ra hỏi ý kiến mấy ông bà từ "Thành Phố" qua.
image
Sau khi ghé Thái Lan, tàu đến Phú Mỹ vào ngày 28 Tết. Tên trên cổng ghi là Tân Cảng Cái Mép nhưng trên du thuyền thì viết là Phú Mỹ. Có lẽ đây là một địa danh mới. Thoạt nghe, tưởng đâu gần khu Nhà Bè ngày xưa nhưng cảng Phú Mỹ này ở gần Bà Rịa và Vũng Tàu, cách Saigon khoảng 90 phút xe, dù bây giờ có xa lộ mới. 

Chúng tôi mua vé xe từ trên du thuyền, để về thăm lại Saigon. Họ làm cho khách một cái thẻ gọi là "Thẻ Đi Bờ", tốn 6 Mỹ kim. Nhân viên của du thuyền cho biết là dù khách có xuống bờ hay không thì vẫn bị trả khoảng tiền này vì nhà nước Việt nam định giá lệ phí ghé bến đó cho mỗi đầu người, khi tàu vào hải phận Việt Nam.

image
Gần 40 năm xa cách quê hương, nên tôi không khỏi bồi hồi khi tàu cặp bến. Điều thú vị là mặc dù Saigon đã mất tên, nhưng trên thực tế, hai chữ Sàigòn vẫn sống với người dân miền Nam và bây giờ dường như tên Saigon còn nổi rõ hơn tên chính thức là thành phố Hồ Chí Minh nữa. Hãng du lịch mang tên Saigon như Saigon Dịch Vụ, Saigon Tourist, chứ không mang tên HCM. Không hiểu cái tên Thành phố HCM quá dài hay có dị ứng gì, mà dân chúng, nhất là dân sinh trưởng ở miền Nam vẫn gọi là Saigon. Hỏi một người đàn ông từ đâu đến, câu trả lời là đến từ Thành Phố hay Thành Phố Chí Minh, chữ Hồ hầu như bị rơi mất nơi đâu. Trên đường từ cảng Phú Mỹ về Saigon, xe đi qua xa lộ mới, phải trả tiền "mãi lộ", qua Long Thành và Thủ Thiêm, chui qua đường ngầm Thủ Thiêm, dưới sông Saigon, vào tới trung tâm thành phố. Long Thành bây giờ rất trù phú, xa lộ sát nhà, những cánh rừng cao su ngày xưa chỉ còn rất ít và thưa thớt. Khi xe chạy qua những vườn cây cao su, tôi không khỏi nhớ lại, những lần đi công tác Đà Lạt, trước năm 1975, phải đi xe qua vùng này mà rợn gáy vì mấy anh du kích núp trong rừng bắn ra, gây nhiều thương tổn cho đoàn công tác, nhất là những lần đưa các phái đoàn cố vấn Mỹ hay Úc đi.

image
Anh hướng dẫn viên người Việt nói tiếng Anh khá lưu loát và cũng có đầu óc hài hước. Nói về những khu building cao sang mới mọc lên hai bên đường, anh giải thích: "Quý vị thấy những building hai bên đường, đó là của VC mới, các nhà tranh lụp xụp là VC cũ. VC cũ là Việt Cộng đánh Mỹ cứu nước, VC mới là Việt Capitalist, là đại gia, là Tư Bản đỏ, đón Mỹ cứu nước, xây biệt thự cho thuê, lấy tiền mua shopping bên California và Texas..." Anh chia sẻ riêng với tôi là gia đình anh ở Mỹ hết, mẹ anh muốn bảo trợ anh qua Houston nhưng anh thấy đời sống bây giờ cũng yên ổn, nên còn chần chừ. Anh phát ngôn rất thoải mái về các vấn đề chống tham nhũng và chính trị nhưng tôi cũng phải dè dặt, vì biết đâu đây chỉ là một cái bẫy dăng ra cho những người có máu "phản động" sa vào. Hy vọng là tôi sai và hy vọng đây là phản ánh tự nhiên của người dân muốn "xả xú bắp" khi họ nói bằng Anh Ngữ với những người từ nước ngoài về thăm quê hương như tôi.

image
Khoảng 9 giờ 30 sáng, xe vào đến Saigon, dừng tại Nhà Thờ Đức Bà để hành khách tự do rong chơi Saigon cho đến 4 giờ chiều, xe đón chở về lại tàu.

Minh, người bạn thân, đón chúng tôi trước trụ sở Bưu Điện Saigon. Minh nói vì là ngày giáp Tết nên quá nửa dân Saigon về quê ăn Tết và đường phố đã vắng hơn thường lệ rất nhiều. Tuy nhiên tôi vẫn thấy Saigon ngày 28 Tết khá đông đúc và dĩ nhiên là nóng bức. Nhà thờ Đức Bà vẫn như xưa nhưng không có lễ mà chỉ có du khách. Trụ sở Bưu Điện được sơn phết lại với mầu vàng chói mắt. Tôi chưa kịp hỏi thì Minh đã giải thích: "Bạn thấy mầu sơn khó chịu quá phải không? Nhiều người cũng đã lên tiếng phàn nàn không hiểu tại sao nhà nước lại chọn màu sơn không hợp với khung cảnh chung quanh chút nào như vậy và cơ quan chức năng có trả lời đây chỉ là sơn thử. Có lẽ, nếu nhiều người phản đối thì họ sẽ cứu xét cho sơn màu khác". 

image
Tôi thầm nghĩ sơn một trụ sở lớn như vậy mỗi lần tốn bộn bạc mà sao họ phí thế? Tuy nhiên tôi chỉ lắc đầu không nói vì sợ bạn tôi buồn. Chúng tôi đi dạo trên phố Saigon để xem phố ngày Tết. Đi trên đường Tự Do cũ, bây giờ là Đồng Khởi, nhà cửa thay đổi nhiều, rất khác ngày xưa. Tôi nhận không ra con đường tôi vẫn dẫn người tình đi dạo phố ngày xưa. Có lẽ tại tôi đã già rồi chăng! Tòa nhà Đô Chánh vẫn như xưa, Tòa nhà Quốc Hội cũ nay là nhà Hát Lớn cũng vẫn như xưa nhưng không thấy không khí thân mật của ngày trước. Có lẽ vì những tấm biểu ngữ và lá cờ đỏ chăng. Sàigòn, ở đâu cũng thấy biểu ngữ, hô hào hết chuyện này đến chuyện nọ. Từ chuyện chống nghiện ngập đến chuyện mừng Xuân, mừng Đảng. Tôi nghĩ, nếu Việt Nam cắt bỏ vụ biểu ngữ thì ngân sách có không ít tiền để làm những chuyện hữu ích.

image
Đường Nguyễn Huệ, nơi năm nào cũng có chợ hoa thì năm nay không có chợ hoa nữa. Được biết thành phố đang làm dự án nâng cấp biến khoảng nửa cây số đường Nguyễn Huệ thành một Quảng Trường rộng đẹp, không cho xe cộ qua lại, làm nơi hội họp của dân chúng, như Quảng Trường Ba Đình ngoài Hà Nội hay Quảng Trường Thiên An Môn bên Tàu. Dự án dự trù hoàn tất trước ngày 30 tháng Tư để mừng "40 năm ngày Giải Phóng". Tuy nhiên đến giữa tháng Hai mà công việc vẫn còn bề bộn. Vì đường Nguyễn Huệ đang sửa chữa, nên năm nay, Đường Hoa mừng Xuân Ất Mùi chuyển qua đại lộ Hàm Nghi. Sáng 28 Tết, đường hoa Tết Ất Mùi đang chờ ông Lê Khả Phiêu tới chủ tọa lễ khai mạc, chúng tôi chỉ được phép đi ngoài hàng rào cản, nhân viên bảo vệ đứng khắp nơi. Dù đứng ngoài nhìn vào nhưng cũng thấy được sự quy mô của các đồ án, rất đẹp và đắt tiền. Hy vọng ngân quỹ chi phí cho các công trình ăn chơi này là do các hãng tư nhân đài thọ, chứ nếu lấy ngân sách thành phố ra mà ăn chơi kiểu này thì thật tội cho người dân. Sau khi khánh thành thì dân chúng mới được vào xem hoa. Không biết những công trình vĩ đại này có kéo dài được 3 ngày Tết không vì hàng năm vẫn nghe báo chí than phiền là sau giao thừa thì các công trình tốn kém này đều tan tác và những người lao động về quê ăn Tết, lúc trở lại thì chẳng còn gì để coi. Từ khu Nguyễn Huệ đến khu "đường hoa Hàm Nghi", chúng tôi đi bộ qua khu chợ cũ. Ở đây, khuôn mặt Saigon vẫn như xưa, mọi người buôn bán hớt hải mong được nhiều thu nhập những ngày cuối năm.

image
Trong khi khu chợ cũ lam lũ thì khu thương xá Diamond, gần dinh Độc Lập cũ, lại là khu dành cho những người giàu sang thừa tiền. Vào thương xá Diamond, tôi có cảm tưởng mình đang ở Singapore hay khu Galeria của Houston. Hình như không ngoa mà nói rằng ở các thương xá hạng nhất của Mỹ có gì thì Diamond có cái đó và có thể còn hơn thế nữa. Mức thang khác biệt ở Saigon ngày nay quá xa, người tiêu không hết, người lần không ra. Hình như họ là hai giai cấp trong xã hội Việt Nam ngày nay.

Sáu giờ đồng hồ cho Saigon qua nhanh, đến lúc phải trở về tàu, tôi lần ra nhà Bưu Điện chờ xe. Những người bán hàng tíu tít bán đồ lưu niệm và quà vặt ngay bảng "Cấm Tụ Tập Mua Bán". Cảnh rao bán làm tôi nhớ lại trước 75, cũng có những người bán hàng như thế cho các quân nhân Mỹ, Phi, Đại Hàn, chẳng khác gì, dù hơn 40 năm trôi qua, ai nghèo vẫn nghèo. Một ông khách người Úc làm tôi đau lòng khi hỏi một cô gái bán hàng:"This price inludes the girl too, right?". Tại sao họ lại dám đùa cợt như vậy?

image
Đưa mắt lơ đãng nhìn, tôi sững sờ bắt gặp hình ảnh Mẹ tôi qua bà bán hàng rong bên thềm nhà Bưu Điện. Ngay sau khi bỏ hết gia sản ngoài Bắc di cư vào Nam tránh Cộng Sản năm 1954, mẹ tôi phải tần tảo bán hàng rong như thế để nuôi anh em tôi. Tôi đến mua một trái cóc dầm cho vợ tôi và dốc hết số tiền Việt Nam vào tay bà rồi vội vã lên xe trước khi bà đếm tiền.

image
Ngồi trên xe, tôi thẫn thờ nhìn bà già bán trái cóc đang đếm tiền mà lòng quặn đau. Sáu mươi năm qua, những bà mẹ Việt Nam vẫn phải chắt chiu chịu đựng như thế sao? Việt Nam đã thay đổi nhiều nhưng những người nghèo, thấp cổ bé miệng vẫn thế. Trên đường về lại du thuyền, tôi suy nghĩ rất nhiều về câu nói của người hướng dẫn khi anh nhắc đến "VC cũ" và "VC mới". Những người nghèo bán rong chạy cơm thì thuộc thành phần nào, trong cái hào nhoáng của thành phố mang tên "bác" của miền nam nước Việt, vào những ngày cận Tết, sau 40 năm đất nước hết chiến tranh?



Nguyễn Phục Hưng
Ngày 27 Tháng 3, 2015

Sunday, June 7, 2015

Chất độc mầu da cam: Việt cộng thua kiện

Ls Lê Đức Minh FB Nếu cuộc chiến tranh Việt Nam có để lại những gì đau xót nhất cho cả bên thua lẫn bên thắng cuộc, thì đó là hậu quả lâu dài của chất độc màu da cam (Agent Orange) mà quân đội Hoa Kỳ đã dùng như một loại thuốc khai quang. Thuốc khai quang này được dùng để diệt cây cối trong những khu vực chiến sự, nhằm làm Việt Cộng không còn chỗ kín để thiết lập chiến khu hay xây dựng những căn cứ quân sự trong chiến tranh Việt Nam.
Nhà cầm quyền Hà Nội cho rằng có khoảng 3 triệu nạn nhân chất độc da cam tại Việt Nam khi tiến hành “Vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam” đối với 37 công ty sản xuất hóa chất của Hoa Kỳ, nhưng không thể cung cấp nổi một test xét nghiệm chứng minh có đúng một nạn nhân do chất độc da cam/dioxin mà Tòa án Mỹ yêu cầu.
6 đoàn nạn nhân chất độc da cam/dioxin ở Việt Nam và các nhà lãnh đạo Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin (VAVA) đã đến và đi khắp nước Mỹ để gặp gỡ nhân dân Mỹ bày tỏ những khổ đau mà nạn nhân Việt Nam phải chịu đựng gần 4 thập niên qua. Hoạt động của các đoàn nạn nhân này và các nhà lãnh đạo VAVA đã được nhiều phương tiện truyền thông ở Mỹ thông tin rộng rãi.
Tòa án Tối cao Mỹ bác đơn thỉnh cầu của nguyên đơn vào ngày 2 tháng 3 năm 2009 vì nguyên đơn Việt Nam đã không chứng minh được chính chất độc da cam đã gây ra các loại bệnh tật như liệt kê trong đơn kiện của họ, vì cho đến thời điểm đệ đơn kiện, họ vẫn thiếu các nghiên cứu sâu rộng về ảnh hưởng của chất làm phát quang cây cối có tác động xấu đối với sức khỏe con người.
Phó chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam Vũ Trọng Kim cho là “Việc tòa án Mỹ từ chối lời thỉnh cầu của các nạn nhân Việt Nam là đã bỏ lỡ cơ hội thể hiện sự công minh của pháp luật và tinh thần yêu chuộng công lý, tôn trọng nhân quyền của nhân dân Mỹ”.

Phát huy hiệu quả tuyên truyền trong nước.
.
Dĩ nhiên đây có thể được coi là một tội ác chiến tranh, cho dù chính phủ, quân đội hay công ty sản xuất tại Hoa Kỳ vào thời điểm đó có thể không lường hết được những di chứng do loại hóa chất độc hại này tác động lên sức khỏe con người. Bởi vì nạn nhân của loại hóa chất này bao gồm cả binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa, binh sĩ Hoa Kỳ, binh sĩ Việt Cộng và gia đình của họ.
Cho nên đứng về nguyên tắc tất cả những nạn nhân của loại hóa chất này có quyền đệ đơn kiện và đòi bồi thường.
Tuy nhiên khi nói đến việc kiện, các nạn nhân, kể cả từ hai bên của cuộc chiến, phải xác định là họ sẽ kiện ai đây. Câu hỏi này khi hỏi những người dân Việt Nam bình thường nhất, họ cũng sẽ trả lời ngay là kiện chính phủ Hoa Kỳ. Chứ kiện ai nữa? Chính phủ Hoa Kỳ ra lệnh cho quân đội Hoa Kỳ sang tham chiến tại Việt Nam. Quân đội Hoa Kỳ đặt hàng chất độc này từ các công ty hóa chất của Hoa Kỳ và quân đội Hoa Kỳ sử dụng nó trên chiến trường Việt Nam. Cả ba đối tượng này đều có thể trở thành những bị đơn trong đơn kiện của Việt Nam.
Theo luật của Hoa Kỳ, Việt Nam có thể kiện cả chính phủ, cả quân đội lẫn các công ty cung cấp hóa chất. Những cáo buộc mà phía Việt Nam có thể nêu ra bao gồm tội ác chiến tranh, tội diệt chủng và những tội danh khác. Tòa án Hoa Kỳ độc lập với hành pháp và các thẩm phán của Tối Cao Pháp Viện có quyền tuyên án chính phủ, quân đội Hoa Kỳ hay các công ty Hoa Kỳ phạm tội ác chiến tranh chống nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến Việt Nam.
Tuy nhiên lý do thứ nhất làm Việt Nam thất bại trong vụ kiện hy hữu này là vì Việt Nam đã chọn sai bị đơn. Thay vì chọn kiện cả ba thì Việt Nam chỉ chọn kiện các công ty sản xuất hóa chất của Hoa Kỳ.
Việc chọn bị đơn sai lầm này có thể được giải thích bởi nhiều lý do. Thứ nhất Việt Nam đã chọn nhầm những luật sư Hoa Kỳ để đại diện cho Việt Nam. Loại bỏ đi thuyết âm mưu, có thể các luật sư mà Việt Nam chọn không phải là những luật sư giỏi vì họ đã quên đi rằng trong lịch sử kiện tụng tại Hoa Kỳ, căn cứ vào những án lệ trước đó, các công ty sản xuất hóa chất đều được miễn truy cứu trách nhiệm một khi họ được yêu cầu cung cấp các sản phẩm đúng theo đơn đặt hàng của chính phủ và quân đội. Chỉ với yếu tố này đơn kiện có thể bị tòa án Hoa Kỳ vứt vào sọt rác ngay lập tức.
Thứ hai do không hiểu biết về luật pháp Hoa Kỳ và Công Pháp Quốc Tế, Việt Nam đã nghe theo lời tư vấn tầm bậy của đủ loại chuyên gia hầm bà lằng. Các chuyên gia này đã có thể tư vấn rằng Việt Nam không nên kiện chính phủ vì làm như thế sẽ rất bất lợi. Trái lại Việt Nam nên kiện các công ty để khỏi làm chính phủ Hoa Kỳ mất mặt và vì thế sau này nếu không may có thua các công ty sản xuất hóa chất thì còn cơ may nhận được lòng thương hại của chính phủ Hoa Kỳ và vì thế sẽ nhận được viện trợ nhân đạo. Cái này cũng có thể xuất phát từ sự tính toán có tính chất trục lợi của chính quyền Việt Nam chứ không phải xuất phát từ mục đích đi tìm công lý cho các nạn nhân của chất độc màu da cam.
Khởi đầu vụ kiện Việt Nam đã có lợi thế áp đảo. Chánh án tòa liên bang New York là chánh án Weinstein đã tuyên bố rằng ông sẽ bỏ qua các án lệ có liên quan đến các công ty sản xuất hóa chất, và nếu Việt Nam chứng minh được tội ác vi phạm nhân quyền ở nước ngoài của các công ty này, ông sẽ không khoan nhượng với các công ty sản xuất hóa chất Hoa Kỳ. Do đó nếu Việt Nam chứng minh rằng chất độc da cam là nguyên nhân trực tiếp và rõ ràng không thể chối cãi được của những tổn hại về tinh thần, sức khỏe của các nạn nhân, thì các công ty sản xuất hóa chất của Hoa Kỳ thua là cái chắc.
Cái chuyện có thể xem như dễ như nằm trong lòng bàn tay, vì rõ ràng chất độc da cam là hậu quả trực tiếp có thể thấy được (?), thì Việt Nam là đám luật sư trong nước lẫn ngoài nước mà họ thuê đã không làm được trò trống gì.
Từ chỗ thấy được hậu quả của chất độc da cam, Việt Nam phải đi đến được việc chứng minh sự liên hệ đó bằng các luận chứng khoa học, chứ không phải chỉ mang đến tòa một số chuyên gia vớ vẩn của họ và một số nạn nhân với ngoại hình kinh khủng do chất độc da cam gây quái thai. Tòa án không phải là nơi để bày tỏ cảm tính, là nơi kêu gọi lòng nhân đạo. Đó là nơi Việt Nam phải chứng minh rằng họ hiểu vấn đề, nắm vững vấn đề và chứng minh được những gì mà họ muốn tòa nghe và hiểu bằng những lý luận có cơ sở không thể chối cãi được.
Điểm mấu chốt cần phải chứng minh là chất dioxin, một chất phụ gia có trong chất độc da cam, là nguyên nhân của mọi thảm họa. Trong khi đó thực tế dioxin trong chất da cam theo số liệu khoa học của tòa thì chỉ ở một nồng độ rất thấp, vì chất da cam trên thực tế là chất diệt cỏ chứ không phải chất độc dùng để giết người!
Thay vì đưa ra những số liệu thống kê chính xác về khu vực bị thuốc khai quang, số người cụ thể bị ảnh hưởng, con số nạn nhân cụ thể đã được xét nghiệm và chẩn đoán đàng hoàng thì phía Việt Nam chỉ đưa ra tòa chừng 20-30 những nạn nhân…đến từ miền Bắc là nơi Hoa Kỳ không có rãi chất da cam. Trong số nạn nhân chỉ có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (cựu bộ trưởng y tế) là người miền Nam từng có mặt trong những vùng bị rãi chất độc da cam.
Chánh án Weinstein cho biết ông không cần tất cả các nạn nhân đều phải là người miền Nam mà chỉ là người Bắc vào Nam chiến đấu rồi về lại cũng được. Tuy nhiên tất cả đều phải chứng minh khoa học và phải có bằng chứng về những bản đồ ghi lại lộ trình của các chuyến bay rãi chất độc da cam. Tuy nhiên Việt Nam và các luật sư của mình đã không đáp ứng được những yêu cầu của chánh án Weinstein trong toàn bộ vụ kiện và họ đã không chứng minh được có sự liên quan cụ thể nào giữa chất độc dioxin trong chất da cam và những biến dạng sinh học trên những nạn nhân của chất độc da cam.
Nhưng nghiêm trọng nhất là cũng là lý do chính khiến Việt Nam thua kiện là vì sự gian dối của phía Việt Nam trong khi tiến hành vụ kiện. Việt Nam có câu “Vô phước đáo tụng đình” nhưng vô phước hơn hết là đáo tụng đình với một đám nhân chứng giả hiệu, được mớm cung bằng những lời khai ngu ngốc do bọn chuyên gia ngu dốt soạn ra.
Tòa án thấy ngay rằng các chuyên gia và nhân chứng từ Việt Nam đều là những người mà lời khai của họ không có độ khả tín tí nào cả. Ví dụ một anh Việt cộng Nam tiến và một anh du kích Bến Tre ra trước tòa khai rằng chất độc da cam màu vàng chóe vì mỗi lần máy bay Mỹ rãi chất độc làm trời đất đều biến thành màu da cam (?).
Thật ra chất khai quang đó có màu trắng như bột mì. Nhưng theo quy định về chất độc thì những hóa chất khai quang này phải được đựng trong những thùng màu vàng để dễ nhận diện chất độc.
Đã thế đoàn chuyên gia Việt Nam còn có sự hiện diện của ba con mụ Việt Cộng đó là giáo sư tiến sĩ Phan Thị Phi Phi của đại học y khoa Hà Nội, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phương của bệnh viện Từ Dũ và bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, cựu bộ trưởng của chính phủ lâm thời cách mạng cộng hòa miền Nam Việt Nam. Bà Dương Quỳnh Hoa còn hùng hồn khai trước tòa rằng lúc ở chiến khu bà còn tận mắt thấy một thùng chất độc da cam rớt xuống tung bột vàng chóe khiến ai đi qua cũng phải lấy khăn che miệng. Sau đó bà ta đưa ra những hình ảnh quái thai của trẻ em Việt Nam để chứng minh đó là hậu quả trực tiếp của chất độc da cam.
Các công ty hóa chất Mỹ bắt đầu ra đòn. Họ chiếu cho tòa xem quy trình phun chất da cam. Tới đó đám bác sĩ chuyên gia và nạn nhân Việt Nam mới hởi ôi. Té ra chất da cam có màu trắng và máy bay không phải rãi bột mà họ rãi một dung dịch bột đã pha với dầu hỏa, chứ không mang cái thùng da cam nào lên máy bay cả. Chưa hết các công ty này cung cấp cho tòa thấy là quân đội Mỹ không rãi chất da cam tại vùng Bến Tre, là nơi anh du kích vớ vẫn sống, vì nơi đó là vùng dân cư đông đúc. Đám chuyên gia và nhân chứng của Việt Nam đứng như những con vịt đực trước tòa không nói được câu nào. Có biết gì đâu mà nói? Toàn một lũ thấm nhuần tuyên truyền của đảng. Nghe đảng nói sao cứ lập lại y như vẹt mà thôi !
Sau năm 1975, Việt Nam có làm một cuốn phim có tựa đề Như Thế Là Tội Ác do Thương Tín đóng. Trong đó cho đồng bào thấy rõ ràng là chất độc da cam được chứa trong những bao vải màu trắng hệt như bột mì trong kho. Đây không phải là ngu thì không biết gọi là gì cho nó thích hợp?
Chưa hết một anh Việt Cộng Nam tiến lên hầu tòa. Anh ta khai được lệnh từ miền Bắc xâm nhập vào Nam chiến đấu. Luật sư của bên bị đơn liền mang hiệp định Paris ra để chứng minh rằng anh cán binh Việt Cộng xâm nhập miền Nam bất hợp pháp do đó nếu có chết hay tàn phế vì bất cứ lý do nào thì phải chịu chứ không kêu ai được.
Trong các hình ảnh của nạn nhân, các chuyên gia của bị đơn chứng minh rằng có cả những trẻ em sinh ra dị tật vì trong quá trình thai nghén không hề được cho uống Acid Folic. Tòa hỏi bà bác sĩ Phượng rằng trong cuộc đời hành nghề của bà , bà có kê đơn cho phụ nữ Việt Nam Acid Folic trong giai đoạn thai nghén không. Bà này quay tới quay lui như gà mắc đẻ. Không biết bà ta có biết Acid Folic là cái thứ chi chi không?

Cựu binh Mỹ đến Đà Nẵng năm 2009 “ủng hộ” các nạn nhân chất độc da cam/dioxin.
Thế là hết! Toàn bộ đám chuyên gia nhân chứng lộ mặt là một lũ ngu, một đám ăn gian nói dối. Rõ ràng Việt Nam khởi tố vụ kiện là vì mơ màng một khoản tiền bồi thường hay viện trợ nhân đạo để chia nhau bỏ túi chứ đâu có phải vì công lý cho những nạn nhân của chất độc da cam đâu.
Tài liệu tham khảo: 
Brian Leung, Vietnam, Agent Orange, and GMOs, The Diplomat, 24/11/2014
Tạ Văn Tài, Vụ kiện dioxin: Có thắng được không?, BBC Online
Thông Nguyễn, Vì sao VN thua vụ kiện chất độc màu da cam, Báo Tổ Quốc Online, 11/2014

Friday, June 5, 2015

Toa thuốc trị bệnh bán nước

http://danlambaovn.blogspot.fr/2015/06/thu-tim-toa-thuoc-tri-benh-ban-nuoc.html#more
Nguồn: www.google.com. Gõ Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 2, Trang 9 (bản pdf)
Hồ Chí Minh đã thú nhận: "Trong lúc nầy, tôi là một người Trung quốc chứ không phải là một người An nam và tên tôi là Lý Thụy chứ không phải là Nguyễn Ái Quốc".

Thursday, June 4, 2015

Trung cộng đang làm gì ở Trường sa?

Mời xem:
https://www.youtube.com/watch?v=4IRMFRZZUJ4

(highlight the link, right click, then open link)

Tuesday, May 19, 2015

Có vợ hay không có vợ?

Nguồn:  http://dcvonline.net/2015/05/11/tang-tuyet-minh-nguoi-vo-trung-quoc-cua-nguyen-ai-quoc/
http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-121/tang-tuyet-minh-nguoi-vo-trung-quoc-cua-nguyen-ai-quo

Lý Thụy (một trong hơn 200 tên của Hồ Chí Minh) lấy Tăng Tuyết Minh, Tầu lấy Tầu là chuyện bình thường và không chối cãi được vì chứng cớ rõ ràng quá nhưng vì muốn gán Hồ Chí Minh cho Nguyễn Ái Quốc nên Thông tấn xã Việt nam ngày 10 tháng 5 năm 2015 đành phải tiết lộ Nguyễn Ái Quốc có vợ là Tăng Tuyết Minh.
Thật sự Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao năm 1932,

Sau đây là bức thư chữ Hán của Lý Thụy gửi cho Tăng Tuyết Minh:
Thư gửi Tăng Tuyết Minh bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14.8.1928, hiện tàng trữ tại C.A.O.M. (Aix en Provence). Xuất xứ : Daniel Hémery, HO CHI MINH De L’Indochine au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145. PHIÊN ÂM : Dữ muội tương biệt, chuyển thuấn niên dư, hoài niệm tình thâm, bất ngôn tự hiểu. Tư nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị ngã ngưỡng/sở vọng. Tinh thỉnh Nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thuỵ. DỊCH : Cùng em xa cách Đã hơn một năm Thương nhớ tình thâm Không nói cũng rõ. Cánh hồng thuận gió Vắn tắt vài dòng Để em an lòng Ấy anh ngưỡng vọng. Và xin kính chúc Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng: Thuỵ (Bản dịch của N.H. Thành)
 PHIÊN ÂM : Dữ muội tương biệt, chuyển thuấn niên dư, hoài niệm tình thâm, bất ngôn tự hiểu. Tư nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị ngã ngưỡng/sở vọng. Tinh thỉnh Nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thuỵ.
DỊCH: Cùng em xa cách Đã hơn một năm Thương nhớ tình thâm Không nói cũng rõ. Cánh hồng thuận gió Vắn tắt vài dòng Để em an lòng Ấy anh ngưỡng vọng. Và xin kính chúc Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng: Thuỵ (Bản dịch của N.H. Thành)

Thư gửi Tăng Tuyết Minh bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14.8.1928, hiện tàng trữ tại C.A.O.M. (Aix en Provence). Xuất xứ : Daniel Hémery, HO CHI MINH De L’Indochine au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145.